Lợi suất trái phiếu Nhật Bản chạm đỉnh gần 30 năm, rủi ro dòng vốn hồi hương gia tăng

Lợi suất trái phiếu Chính phủ Nhật Bản (JGB) chạm mức cao nhất trong gần 30 năm đang làm dấy lên rủi ro lớn cho giới đầu tư toàn cầu trong bối cảnh khối tài sản khổng lồ ở nước ngoài của quốc gia này sẽ ồ ạt quay về nước. Dù chưa có dấu hiệu rõ rệt, song giới chuyên gia cảnh báo một sự dịch chuyển nhỏ cũng đủ sức gây chấn động thị trường trái phiếu toàn cầu và tiếp thêm lực đẩy cho đồng yen.
Chú thích ảnh
Đồng yen Nhật. Ảnh: THX/TTXVN

Tuần trước, lợi suất JGB kỳ hạn 10 năm đã chạm mốc 3% lần đầu tiên kể từ năm 1996, do lo ngại lạm phát, chi tiêu tài khóa và kỳ vọng Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BoJ) sẽ đẩy nhanh việc tăng lãi suất. Cột mốc này trùng hợp với đà tăng 4% của đồng yen trong tháng này, đưa đồng nội tệ Nhật Bản thành đồng tiền có hiệu suất tốt nhất nhóm G10 sau khi phá vỡ ngưỡng kháng cự quan trọng 155 yen/USD.

Trong nhiều thập kỷ, môi trường lãi suất siêu thấp đã đưa Nhật Bản thành nhà xuất khẩu vốn lớn nhất thế giới. Các nhà đầu tư nước này hiện nắm giữ gần 5.000 tỷ USD tài sản ở nước ngoài và là chủ nợ nước ngoài lớn nhất của Mỹ. Tuy nhiên, tình thế đang đảo chiều. Ngân hàng Deutsche Bank ước tính, dòng vốn phân bổ lại vào tài sản Nhật Bản có thể lên tới 440 tỷ USD trong vài năm tới. Quá trình này có thể được châm ngòi sớm khi Bộ trưởng Y tế Nhật Bản Kenichiro Ueno ngày 8/9 xác nhận Quỹ Đầu tư Hưu trí Chính phủ (GPIF) đang xem xét lại việc phân bổ tài sản.

Dù vậy, dữ liệu dòng tiền hiện tại cho thấy cuộc "hồi hương" này chưa thực sự diễn ra. Thay vì bán tháo tài sản nước ngoài đưa tiền về nước, các nhà đầu tư Nhật Bản đang phản ứng bằng cách giảm thiểu các khoản phòng ngừa rủi ro tỷ giá. Tỷ lệ phòng ngừa rủi ro đối với các khoản đầu tư trái phiếu nước ngoài mới đã giảm từ mức 62% của năm 2024 xuống còn khoảng 40% trong năm nay. Hiện tại, với chi phí phòng ngừa rủi ro đồng USD ở mức gần 3%, trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm chỉ mang lại mức lợi suất khoảng 2% (tính theo đồng yen), thấp hơn khoảng 1 điểm phần trăm so với JGB cùng kỳ hạn.

Giới phân tích nhận định, rào cản hiện tại không nằm ở mức lợi suất, mốc 3% đã rất hấp dẫn, mà ở tâm lý chờ đợi của các tổ chức tài chính. Sự thiếu tự tin vào khả năng lợi suất JGB đã tạo đỉnh khiến các nhà đầu tư vẫn đứng ngoài quan sát. Tuy nhiên, một khi thị trường tin rằng lợi suất trong nước đã ổn định và đồng yen duy trì đà tăng giá mạnh mẽ, dòng vốn khổng lồ của Nhật Bản sẽ chính thức bùng nổ.

Minh Hằng/TTXVN (Bloomberg)

Dành cho bạn

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài cuối: Những tuyến đường đến các cực tăng trưởng mới

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài cuối: Những tuyến đường đến các cực tăng trưởng mới

Cao tốc, sân bay và cảng biển tạo lợi thế tiếp cận, nhưng dòng vốn chỉ ở lại nơi có đất sạch, điện, nước, nhân lực, môi trường và thủ tục đủ tin cậy. Từ Vân Phong, Nhơn Hội, Buôn Ma Thuột đến Liên Chiểu và các đô thị dọc cao tốc Lâm Đồng, miền Trung - Tây Nguyên đang hình thành nhiều điểm hội tụ mới. Thách thức là biến các dự án riêng lẻ thành hệ sinh thái và phân chia lợi ích liên vùng.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa

Hạ tầng có thể rút ngắn một chuyến xe, nhưng chưa chắc nâng giá trị một tấn nông sản. Giá trị chỉ tăng khi vùng nguyên liệu được số hóa, sản phẩm được bảo quản, chế biến, kiểm định và bán bằng thương hiệu của mình. Từ cà phê, sầu riêng ở Đắk Lắk, rau hoa và trái cây Lâm Đồng đến dữ liệu di sản Huế, chuỗi giá trị mới đang đòi hỏi hạ tầng rộng hơn đường sá: hạ tầng số, tiêu chuẩn và năng lực sáng tạo.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 2: Để cảng biển không thành 'đảo hạ tầng'

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 2: Để cảng biển không thành 'đảo hạ tầng'

Miền Trung có chuỗi cảng nước sâu trải dọc bờ biển, còn phía Tây là vùng sản xuất rộng lớn nối sang Lào và Campuchia nhưng một cầu cảng lớn không mặc nhiên có nguồn hàng, cũng như một tuyến cao tốc chưa chắc tạo nên hành lang kinh tế. Cuộc cạnh tranh mới nằm ở năng lực tổ chức hậu phương cảng, vận tải đa phương thức và hệ sinh thái dịch vụ giữ hàng hóa ở lại lâu hơn.