Khóa họp IV Ủy ban hỗn hợp thực thi FTA giữa Việt Nam và Liên minh kinh tế Á - Âu

Ngày 13/10, tại trụ sở Ủy ban Kinh tế Á - Âu, Bộ trưởng Công Thương Việt Nam Nguyễn Hồng Diên và Bộ trưởng Phụ trách Thương mại của Ủy ban Kinh tế Á - Âu Andrey Slepnev đã đồng chủ trì Khóa họp IV Ủy ban Hỗn hợp về thực thi Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á - Âu (EAEU) đồng thời đánh giá kết quả 5 năm thực hiện Hiệp định.
Chú thích ảnh
 Bộ trưởng Công Thương Việt Nam Nguyễn Hồng Diên phát biểu tại khóa họp.

Tham dự Khóa họp, về phía Việt Nam còn có Đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại LB Nga Đặng Minh Khôi và các đại diện khác của Bộ Công Thương và Đại sứ quán Việt Nam tại LB Nga.

Tại khóa họp, hai Bộ trưởng đều thống nhất rằng FTA Việt Nam - EAEU đã đóng góp cho sự phát triển thương mại hai chiều mạnh mẽ giữa Việt Nam và các nước thành viên Liên minh. Bộ trưởng Slepnev đã cung cấp thông tin về tình hình thực thi FTA, theo đó nhìn chung, kết quả 5 năm đầu thực hiện FTA cho thấy tốc độ tăng trưởng ổn định trong kim ngạch thương mại giữa EAEU và Việt Nam, với mức tăng 32,2% (từ 5,9 tỷ USD năm 2017 lên 7,8 tỷ USD năm 2021, theo số liệu của EAEU). Tuy nhiên, mức độ tận dụng ưu đãi từ Hiệp định này có phần còn khiêm tốn (với tỉ lệ trung bình hơn 40%). Điều này thể hiện rằng hợp tác kinh tế - thương mại song phương còn nhiều tiềm năng, cần nỗ lực tháo gỡ các vướng mắc đề phát triển.

Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên thẳng thắn đánh giá một số điều khoản, cam kết của Hiệp định đã không còn phù hợp với bối cảnh hiện nay, theo đó, nhận định rằng đây là thời điểm thích hợp để EAEU và Việt Nam xem xét những ý tưởng mới, nâng cấp FTA để cùng khai thác những tiềm năng mới, cơ hội mới còn đang bỏ ngỏ và trong khi triển khai các quy trình, thủ tục cần thiết để sửa đổi Hiệp định, hai bên cần tìm cách tháo gỡ các vướng mắc, khó khăn hiện tại, thúc đẩy thương mại song phương. Trên cơ sở đó, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên đề nghị EAEU lưu ý những quan tâm của Việt Nam liên quan đến các hạn chế của biện pháp phòng vệ ngưỡng và hạn ngạch gạo thấp. 

Về yêu cầu của EAEU đối với khả năng mở cửa thị trường cho một số sản phẩm rượu cô nhắc, tăng xuất khẩu lúa mỳ, thịt bò, phân bón sang Việt Nam, Việt Nam cho biết sẽ phối hợp trao đổi với các bộ ngành liên quan trên tinh thần sẵn sàng mở cửa thị trường, cân bằng lợi ích của hai bên.

Chú thích ảnh
Quang cảnh khóa họp. 

Tại Khóa họp, hai Bộ trưởng cũng nêu tóm tắt về kết quả phiên họp Tiểu ban về xuất xứ hàng hóa (thuộc Ủy ban Hỗn hợp), theo đó, cấp kỹ thuật đã tổ chức họp trực tuyến vào ngày 30/9 và đề xuất sửa đổi Phụ lục về quy tắc cụ thể mặt hàng và tình hình đàm phán Nghị định thư về trao đổi thông tin điện tử trong khuôn khổ Hệ thống về chứng nhận xuất xứ và xác minh xuất xứ điện tử.

Ngoài ra, một vấn đề mới được phía EAEU nêu ra tại khóa họp này là phát triển kinh tế xanh. Đây cũng là vấn đề Việt Nam đang rất quan tâm, do vậy phía Việt Nam hoan nghênh nội dung này và rất mong được nhận được sự hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm từ EAEU.

Kết thúc khóa họp, hai Bộ trưởng đã ký Biên bản của khóa họp và nhất trí sẽ báo cáo Chính phủ hai nước để thúc đẩy các nội dung đã được hai bên trao đổi và thống nhất.

Chú thích ảnh
Bộ trưởng Công Thương Việt Nam Nguyễn Hồng Diên và Bộ trưởng Phụ trách Thương mại của Ủy ban Kinh tế Á - Âu Andrey Slepnev ký Biên bản của khóa họp.

EAEU, gồm LB Nga, Cộng hòa Belarus, Cộng hòa Kazaskhtan, Cộng hòa Armenia và Cộng hòa Kyrgyzstan. Theo số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam, ngay từ khi FTA bắt đầu có hiệu lực (cuối năm 2016), kim ngạch thương mại hai chiều năm đó đạt 3,04 tỷ USD, tăng 23% so với năm 2015.

Những năm tiếp theo, thương mại song phương đều có mức tăng trưởng tích cực ở mức trên 25%. Năm 2021, mặc dù chịu ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19, thương mại song phương vẫn đạt mức tăng trưởng khoảng hơn 16% đạt mức gần 6 tỷ USD. Trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang EAEU đạt khoảng 3,5 tỷ USD, tăng 15,3% và nhập khẩu đạt 2,4 tỷ USD tăng 15,7%.

Tin, ảnh: Duy Trinh - PV TTXVN tại Nga

Dành cho bạn

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài cuối: Những tuyến đường đến các cực tăng trưởng mới

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài cuối: Những tuyến đường đến các cực tăng trưởng mới

Cao tốc, sân bay và cảng biển tạo lợi thế tiếp cận, nhưng dòng vốn chỉ ở lại nơi có đất sạch, điện, nước, nhân lực, môi trường và thủ tục đủ tin cậy. Từ Vân Phong, Nhơn Hội, Buôn Ma Thuột đến Liên Chiểu và các đô thị dọc cao tốc Lâm Đồng, miền Trung - Tây Nguyên đang hình thành nhiều điểm hội tụ mới. Thách thức là biến các dự án riêng lẻ thành hệ sinh thái và phân chia lợi ích liên vùng.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa

Hạ tầng có thể rút ngắn một chuyến xe, nhưng chưa chắc nâng giá trị một tấn nông sản. Giá trị chỉ tăng khi vùng nguyên liệu được số hóa, sản phẩm được bảo quản, chế biến, kiểm định và bán bằng thương hiệu của mình. Từ cà phê, sầu riêng ở Đắk Lắk, rau hoa và trái cây Lâm Đồng đến dữ liệu di sản Huế, chuỗi giá trị mới đang đòi hỏi hạ tầng rộng hơn đường sá: hạ tầng số, tiêu chuẩn và năng lực sáng tạo.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 2: Để cảng biển không thành 'đảo hạ tầng'

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 2: Để cảng biển không thành 'đảo hạ tầng'

Miền Trung có chuỗi cảng nước sâu trải dọc bờ biển, còn phía Tây là vùng sản xuất rộng lớn nối sang Lào và Campuchia nhưng một cầu cảng lớn không mặc nhiên có nguồn hàng, cũng như một tuyến cao tốc chưa chắc tạo nên hành lang kinh tế. Cuộc cạnh tranh mới nằm ở năng lực tổ chức hậu phương cảng, vận tải đa phương thức và hệ sinh thái dịch vụ giữ hàng hóa ở lại lâu hơn.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 1: Mở đường không gian cao nguyên - biển

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 1: Mở đường không gian cao nguyên - biển

Từ những tuyến cao tốc vượt Trường Sơn đến các cảng nước sâu hướng ra tuyến hàng hải quốc tế, một mạng kết nối mới đang hình thành ở miền Trung - Tây Nguyên. Tuy nhiên, những con đường chỉ thực sự tạo động lực tăng trưởng khi kết nối được vùng nguyên liệu, khu công nghiệp, trung tâm logistics, đô thị và thị trường; khi các địa phương cùng tổ chức dòng hàng và chuỗi giá trị thay vì đầu tư từng công trình riêng lẻ.