Nhờ số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng, đời sống của các cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng được cải thiện; nhận thức về công tác quản lý, bảo vệ rừng được nâng lên. Qua đó, góp phần khẳng định vai trò tích cực của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Theo đó, trong số hơn 400 tỷ đồng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng năm 2025, đã có trên 34,4 tỷ đồng chi trả cho 3.602 hộ gia đình; 18,34 tỷ đồng chi trả cho 212 cộng đồng dân cư, với tổng diện tích chi trả ở cả hai nhóm đối tượng là hơn 54.656 ha rừng. Bình quân, mỗi hộ gia đình nhận 9,5 triệu đồng/hộ/năm; mỗi cộng đồng dân cư thôn nhận 86,5 triệu đồng/cộng đồng/năm.
Đối với các đơn vị chủ rừng là tổ chức, Ủy ban nhân dân các xã, phường đã khoán quản lý, bảo vệ rừng năm 2025 cho 464 hộ gia đình, cá nhân; 347 cộng đồng dân cư thôn; 97 nhóm hộ, 7 tổ chức khác với tổng diện tích khoán trên 131.387 ha. Qua đó, chi trả gần 107 tỷ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng. Bình quân, mỗi hộ gia đình nhận khoán có thu nhập bình quân khoảng 10,2 triệu đồng/năm, mỗi cộng đồng dân cư thôn khoảng 273,6 triệu đồng/năm, nhóm hộ khoảng 39,8 triệu đồng/năm, và mỗi tổ chức khoảng 450,3 triệu đồng/năm.
Tỷ lệ chi trả qua tài khoản ngân hàng đạt khoảng 99,7%, góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch, an toàn và thuận tiện trong quản lý, sử dụng nguồn tiền dịch vụ môi trường rừng.
Ông Trần Anh Tuấn, Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ môi trường, Phát triển rừng và Phòng, chống thiên tai tỉnh Quảng Ngãi nhận định, nguồn chi trả dịch vụ môi trường rừng được các chủ rừng là hộ gia đình, cộng đồng dân cư thôn; hộ nhận khoán quản lý và sử dụng một cách hiệu quả, minh bạch, đúng đối tượng; đồng thời tạo việc làm và thu nhập ổn định cho cán bộ, người lao động và cộng đồng dân cư. Người dân, đặc biệt là các hộ gia đình được Nhà nước giao đất, giao rừng, đã tham gia tích cực vào công tác quản lý, bảo vệ rừng. Đây chính là bước đi quan trọng trong việc xã hội hóa nghề rừng, góp phần bảo đảm an ninh, quốc phòng và trật tự xã hội trên địa bàn tỉnh.
Đơn cử, ông A Hiền, thôn Vi Rơ Ngheo, xã Măng Đen nhận quản lý, bảo vệ 30 ha rừng từ nhiều năm nay. Nhờ làm tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng, mỗi năm ông nhận được trên 30 triệu đồng từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Nguồn thu này được gia đình đầu tư trở lại cho sản xuất nông nghiệp và phát triển mô hình du lịch homestay, phục vụ du khách trong và ngoài tỉnh đến tham quan, nghỉ dưỡng, trải nghiệm văn hóa địa phương.
Còn ông A Tám, thôn Đăk Duông, xã Ngọk Réo nhận quản lý, bảo vệ gần 10 ha rừng từ năm 2020. Mỗi năm, ông gia đình ông nhận được trên 8 triệu đồng từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Nhận được tiền, gia đình ông đã tích cóp và mua bò cái sinh sản, đến nay đàn bò đã phát triển được 6 con; đồng thời đầu tư mua phân bón và thuốc bảo vệ thực vật để chăm sóc diện tích 1ha cà phê. Với phương thức canh tác khép kín, tiên tiến, ông A Tám đã tận dụng phân bò để bón cho cây cà phê, góp phần giảm chi phí đầu tư hàng năm, đem lại thu nhập từ vườn cây cà phê trên 200 triệu đồng.
“Có thể khẳng định, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn tạo động lực để người dân chủ động tham gia bảo vệ rừng, tăng cường sự gắn kết giữa cộng đồng với chủ rừng và chính quyền địa phương. Đây là một trong những nguồn lực quan trọng góp phần duy trì tỷ lệ che phủ rừng của tỉnh đạt 59,41%, bảo vệ môi trường sinh thái, điều tiết nguồn nước, hạn chế xói mòn và góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh tại địa phương”, ông Trần Anh Tuấn nhấn mạnh.
sản xuất nông nghiệp.
Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ môi trường, Phát triển rừng và Phòng, chống thiên tai tỉnh Quảng Ngãi cho biết, trong năm 2026 và những năm tiếp theo, đơn vị sẽ tiếp tục phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương và chủ rừng triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, gắn việc chi trả với trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng và cải thiện sinh kế của người dân.
“Quỹ Bảo vệ môi trường, Phát triển rừng và Phòng, chống thiên tai tỉnh Quảng Ngãi sẽ tiếp tục mở rộng và khai thác hiệu quả các nguồn thu dịch vụ môi trường rừng; đẩy mạnh chuyển đổi số, công khai và minh bạch trong quản lý, chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng; tăng cường kiểm tra, giám sát và phối hợp trong thực hiện chính sách; gắn chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng với sinh kế và phát triển cộng đồng bền vững; đổi mới công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức và trách nhiệm cộng đồng. Qua đó, hướng đến mục tiêu nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn tiền dịch vụ môi trường rừng, phát huy vai trò và trách nhiệm của người dân, cộng đồng trong bảo vệ rừng, từng bước cải thiện sinh kế và góp phần thực hiện mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi”, ông Trần Anh Tuấn nhấn mạnh.