Giá điện sinh hoạt, thực phẩm tăng khiến CPI tháng 7 tăng 0,45%

Tổng cục Thống kê vừa công bố sáng 29/7, chỉ số CPI tháng 7 tăng 0,45% là do nguyên nhân giá lương thực, thực phẩm, điện sinh hoạt tăng do nhu cầu tăng cao.
Chú thích ảnh
Giá điện sinh hoạt, thực phẩm tăng khiến CPI tháng 7 tăng 0,45%. Ảnh (tư liệu): Mỹ Phương/TTXVN

So với tháng 12/2022, CPI tháng 7/2023 tăng 1,13% và so với cùng kỳ năm trước tăng 2,06%. Bình quân 7 tháng năm 2023, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 3,12% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 4,65%.

Trong mức tăng 0,45% của CPI tháng 7/2023 có 10 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng và 1 nhóm hàng có chỉ số giá giảm. Cụ thể, 10 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm: nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,84%, nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,51%; nhóm giao thông tăng 0,11%..., riêng nhóm bưu chính viễn thông giá giảm 0,12%.

Tổng cục Thống kê chỉ ra các yếu tố làm tăng CPI trong 7 tháng năm 2023; đó là: chỉ số giá nhóm giáo dục bình quân 7 tháng năm 2023 tăng 7,61% so với cùng kỳ năm trước do một số địa phương đã tăng học phí trở lại từ tháng 9/2022 sau khi đã miễn, giảm học phí trong năm học 2021-2022.

Đối với nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 6,58% so với cùng kỳ năm trước, do giá xi măng, sắt, thép, cát tăng theo giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào và giá thuê nhà ở tăng cao. Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,71% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do từ tháng 7/2023 dịch vụ bảo hiểm y tế tăng theo lương cơ sở.

Chỉ số giá nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 3,45% do dịch COVID-19 được kiểm soát, nhu cầu giải trí và du lịch của người dân tăng.

Cùng với đó, chỉ số giá vé máy bay tăng 67,87%; giá vé tàu hỏa tăng 31,34%; giá vé ô tô khách tăng 9,83% do nhu cầu đi du lịch trong dịp Lễ, Tết, dịp hè của người dân tăng.

Không những thế, giá các mặt hàng thực phẩm tăng 3,34%, chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng tăng trong các dịp Lễ, Tết, tác động làm CPI tăng 0,71 điểm phần trăm. Giá điện sinh hoạt tăng 3,79% do nhu cầu sử dụng điện tăng và quyết định tăng 3% giá điện của EVN áp dụng từ ngày 04/5/2023. Giá gạo trong nước tăng 2,4% theo giá gạo xuất khẩu…

Tuy nhiên, bên cạnh các yếu tố làm tăng CPI, cũng có những yếu tố làm giảm CPI trong 7 tháng năm 2023 như: bình quân 7 tháng năm 2023, giá dầu hỏa giảm 12,41% so với cùng kỳ năm trước; giá xăng dầu trong nước giảm 19,32% theo biến động của giá thế giới. Giá gas trong nước giảm 11,44% theo giá thế giới. Chỉ số giá nhóm bưu chính, viễn thông giảm 0,45% do giá điện thoại thế hệ cũ giảm.

Tổng cục Thống kê cho biết, trong tháng 7, giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Tính đến ngày 25/7/2023, bình quân giá vàng thế giới ở mức 1.951,89 USD/ounce, giảm 0,62% so với tháng 6/2023 do thị trường kỳ vọng Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất cơ bản thêm 0,25 điểm phần trăm gây áp lực lên giá vàng. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 7/2023 giảm 0,03% so với tháng trước; tăng 3,27% so với tháng 12/2022; tăng 3,39% so với cùng kỳ năm trước; bình quân 7 tháng năm 2023 tăng 1,06%.

Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,53%. Trên thế giới, giá đồng đô la Mỹ biến động tăng, giảm đan xen khi lạm phát ở Mỹ hạ nhiệt và ảnh hưởng của các thông tin tích cực từ thị trường lao động Mỹ. Tính đến ngày 25/7/2023, chỉ số đô la Mỹ trên thị trường quốc tế đạt mức 101,07 điểm, giảm 1,86% so với tháng trước.

Trong nước, giá đô la Mỹ bình quân trên thị trường tự do quanh mức 23.787 VND/USD. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 7/2023 tăng 0,53% so với tháng trước; giảm 1,71% so với tháng 12/2022; tăng 1,04% so với cùng kỳ năm trước; bình quân 7 tháng năm 2023 tăng 2,39%.

Theo Tổng cục Thống kê, lạm phát cơ bản tháng 7/2023 tăng 0,36% so với tháng trước, tăng 4,11% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 7 tháng năm 2023, lạm phát cơ bản tăng 4,65% so với cùng kỳ năm 2022, cao hơn mức tăng CPI bình quân chung (tăng 3,12%).

Nguyên nhân chủ yếu do bình quân giá xăng dầu trong nước 7 tháng năm 2023 giảm 19,32% so với cùng kỳ năm trước, giá gas giảm 11,44% là yếu tố kiềm chế tốc độ tăng của CPI nhưng thuộc nhóm hàng được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.

Thúy Hiền (TTXVN)

Dành cho bạn

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa

Hạ tầng có thể rút ngắn một chuyến xe, nhưng chưa chắc nâng giá trị một tấn nông sản. Giá trị chỉ tăng khi vùng nguyên liệu được số hóa, sản phẩm được bảo quản, chế biến, kiểm định và bán bằng thương hiệu của mình. Từ cà phê, sầu riêng ở Đắk Lắk, rau hoa và trái cây Lâm Đồng đến dữ liệu di sản Huế, chuỗi giá trị mới đang đòi hỏi hạ tầng rộng hơn đường sá: hạ tầng số, tiêu chuẩn và năng lực sáng tạo.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 2: Để cảng biển không thành 'đảo hạ tầng'

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 2: Để cảng biển không thành 'đảo hạ tầng'

Miền Trung có chuỗi cảng nước sâu trải dọc bờ biển, còn phía Tây là vùng sản xuất rộng lớn nối sang Lào và Campuchia nhưng một cầu cảng lớn không mặc nhiên có nguồn hàng, cũng như một tuyến cao tốc chưa chắc tạo nên hành lang kinh tế. Cuộc cạnh tranh mới nằm ở năng lực tổ chức hậu phương cảng, vận tải đa phương thức và hệ sinh thái dịch vụ giữ hàng hóa ở lại lâu hơn.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 1: Mở đường không gian cao nguyên - biển

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 1: Mở đường không gian cao nguyên - biển

Từ những tuyến cao tốc vượt Trường Sơn đến các cảng nước sâu hướng ra tuyến hàng hải quốc tế, một mạng kết nối mới đang hình thành ở miền Trung - Tây Nguyên. Tuy nhiên, những con đường chỉ thực sự tạo động lực tăng trưởng khi kết nối được vùng nguyên liệu, khu công nghiệp, trung tâm logistics, đô thị và thị trường; khi các địa phương cùng tổ chức dòng hàng và chuỗi giá trị thay vì đầu tư từng công trình riêng lẻ.