Phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc đã phỏng vấn Tiến sĩ Phạm Đình Dũng, Trưởng Ban Quản lý Khu Nông nghiệp Công nghệ cao TP Hồ Chí Minh, về việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, những kết quả bước đầu và định hướng phát triển trong giai đoạn 2026 - 2030.
Thưa ông, trong triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW, chuyển đổi số đang thay đổi hoạt động nghiên cứu, sản xuất tại Ban quản lý Khu Nông nghiệp Công nghệ caonhư thế nào? Những kết quả nào cho thấy hiệu quả thực tế?
Chúng tôi xác định chuyển đổi số có vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) và nông nghiệp đô thị của Thành phố. Trọng tâm là từng bước chuyển từ quản lý, sản xuất dựa vào kinh nghiệm sang ra quyết định trên cơ sở dữ liệu.
Chẳng hạn, với mô hình nhà màng, cảm biến giúp theo dõi liên tục nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, nồng độ CO₂ và dinh dưỡng. Từ những thông tin này, hệ thống tưới, làm mát, chiếu sáng được điều chỉnh theo nhu cầu thực tế của cây trồng. Người sản xuất có thể theo dõi điều kiện canh tác và chủ động xử lý khi có bất thường.
Các mô hình nhà màng, nhà kính thông minh kết hợp tưới nhỏ giọt tự động đã được áp dụng với dưa lưới, cà chua bi, ớt, rau ăn lá và hoa kiểng. Kết quả giúp tiết kiệm khoảng 30 - 40% lượng nước và phân bón, chủ động sản xuất quanh năm, nâng năng suất ít nhất 20%. Thu nhập người sản xuất có thể tăng 1,5 - 3 lần so với phương thức truyền thống.
Trong sản xuất nấm linh chi, nhộng trùng thảo và bào ngư yến, chúng tôi dùng cảm biến kết nối phần mềm điều khiển thiết bị để duy trì môi trường sinh trưởng phù hợp, giảm công chăm sóc thủ công.
Một ứng dụng khác là trí tuệ nhân tạo (AI) hỗ trợ nhận diện bệnh hại. Hệ thống chẩn đoán bệnh trên dưa lưới trong nhà màng ghi nhận độ chính xác khoảng 85 - 90%, riêng bệnh giả sương mai đạt 93,3%. Việc phát hiện sớm giúp người sản xuất khoanh vùng, xử lý kịp thời, hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học.
Chúng tôi cũng nghiên cứu kết hợp dữ liệu hình ảnh với AI để nhận diện cây thiếu hoặc thừa dinh dưỡng, từ đó khuyến cáo bón phân phù hợp từng giai đoạn. Với dự báo năng suất, Khu hướng đến tích hợp dữ liệu để đánh giá nguy cơ mùa vụ và sản lượng thu hoạch.
Hiện nay, các nhóm công nghệ được ưu tiên gồm AI, Internet vạn vật (IoT), tự động hóa, robot, thiết bị bay không người lái, dữ liệu lớn và nền tảng quản lý số. Trong đó, robot và thiết bị bay được định hướng phục vụ lập bản đồ vùng sản xuất, theo dõi cây trồng, gieo hạt, bón phân, phun thuốc chính xác. Công nghệ số cũng được ứng dụng trong quản lý nghiên cứu, đầu tư và hoạt động doanh nghiệp tại Khu NNCNC.
Những ứng dụng ấy cần có dữ liệu đầu vào. Ban quản lý Khu NNCNC đang xây dựng và khai thác nguồn dữ liệu này ra sao, thưa ông?
Muốn đưa ra khuyến cáo phù hợp cho cây trồng, trước hết phải có dữ liệu về cây, bệnh hại và điều kiện sản xuất. Vì vậy, chúng tôi chú trọng xây dựng, quản lý và khai thác dữ liệu cùng với quá trình phát triển các ứng dụng.
Các đơn vị trực thuộc đang sử dụng cảm biến thu thập thông tin về nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, nồng độ CO₂, độ pH, độ dẫn điện và hàm lượng dinh dưỡng trong đất, giá thể. Dữ liệu được cập nhật liên tục để theo dõi sinh trưởng, điều chỉnh điều kiện canh tác.
Khu NNCNC đồng thời xây dựng cơ sở dữ liệu về cây trồng, hoa lan, nấm, thủy sản và bệnh hại, với hơn 800 nguồn giống, trên 150 quy trình kỹ thuật. Đây là cơ sở huấn luyện các mô hình AI chẩn đoán bệnh, dự báo dịch hại, hỗ trợ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hợp lý và giảm tác động đến môi trường.
Chúng tôi đã phối hợp với Công viên Phần mềm Quang Trung và Công ty Global CyberSoft Vietnam thử nghiệm phần mềm SmartAgri trên mô hình dưa lưới. Phần mềm hỗ trợ từ lập kế hoạch, quản lý mùa vụ, tính chi phí, doanh thu đến theo dõi môi trường, điều khiển tưới, làm mát, chiếu sáng và cảnh báo khi điều kiện sản xuất không phù hợp.
Cùng với đó là số hóa nhật ký sản xuất, ứng dụng công nghệ chuỗi khối và mã QR để lưu lại thông tin từ nguồn giống, chăm sóc đến thu hoạch, bảo quản và phân phối. Những dữ liệu này giúp việc truy xuất nguồn gốc thuận tiện hơn.
Thời gian tới, Khu NNCNC hướng đến cơ sở dữ liệu nông nghiệp dùng chung, kết nối thông tin về giống, bệnh hại, dinh dưỡng, môi trường và quy trình sản xuất. Chúng tôi muốn từng bước liên thông dữ liệu từ nghiên cứu, cung ứng giống đến canh tác, bảo quản và tiêu thụ nông sản; kết hợp phân tích bằng AI để cảnh báo, hỗ trợ quyết định và đo đếm phát thải carbon.
Bên cạnh công nghệ số, nguồn giống vẫn là yếu tố quan trọng của sản xuất. Khu NNCNC đã bảo tồn, chọn tạo và cung cấp những giống nào cho người làm nông?
Chúng tôi chú trọng cả việc lưu giữ nguồn gen và khai thác nguồn gen để phát triển giống mới. Hiện Khu duy trì hơn 800 nguồn giống thuộc các nhóm dược liệu, hoa kiểng, hoa lan, vi sinh vật, nấm, cá cảnh và thủy sản.
Các bộ sưu tập chuyên biệt gồm 220 giống dược liệu quý, 100 giống kiểng lá, 135 giống lan rừng và lan Dendrobium, cùng 500 chủng vi sinh vật ứng dụng trong nông nghiệp. Từ nguồn gen hiện có, chúng tôi nghiên cứu, chọn lọc, lai tạo giống có năng suất, chất lượng cao, chống chịu sâu bệnh và thích ứng với điều kiện bất lợi.
Đến nay, Khu NNCNC đã làm chủ công nghệ sản xuất hạt giống lai F1, công bố các giống dưa lưới CNC01, dưa leo CNC04, ớt CNC02, khổ qua CNC03, cà chua bi CNC05 và lan Dendrobium CNC01-02. Giống dưa lưới AHRD201 đã được cấp bằng bảo hộ; một số giống khác đang được khảo nghiệm về tính khác biệt, đồng nhất và ổn định. Mỗi năm, Khu tiếp tục nghiên cứu, đăng ký bảo hộ 2 - 3 giống mới.
Các giống được phát triển theo yêu cầu về năng suất, chất lượng, khả năng chống chịu và phù hợp điều kiện sản xuất, trong đó có nông nghiệp đô thị, canh tác trong nhà màng.
Để tạo nguồn giống chất lượng, chúng tôi ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô, sinh học phân tử và vi sinh trong nhân nhanh giống sạch bệnh, đánh giá đặc điểm di truyền, kiểm soát chất lượng giống, phát triển chế phẩm sinh học. Khu cũng định hướng nghiên cứu, tiếp nhận công nghệ chỉnh sửa gen, chuyển gen và phân tích dữ liệu sinh học phục vụ chọn tạo giống thế hệ mới.
Công nghệ số hỗ trợ quản lý thông tin nguồn gen, truy xuất nguồn gốc, giám sát sinh trưởng và phát hiện dịch bệnh. Sự kết hợp này giúp việc bảo tồn gắn chặt hơn với nghiên cứu và sản xuất.
Mỗi năm, Khu cung ứng hàng triệu cây giống cấy mô, cây sau nuôi cấy mô và giống rau ăn quả; khoảng 3,5 triệu con cá cảnh, 4,9 triệu meo phôi nấm ăn, nấm dược liệu và hơn 870 kg hạt giống. Khu cũng đã hoàn thiện 150 quy trình kỹ thuật, trong đó 16 quy trình được công nhận là tiến bộ kỹ thuật cấp quốc gia.
Thưa Tiến sĩ, từ kết quả nghiên cứu đến ứng dụng rộng rãi vẫn còn khoảng cách. Khu NNCNC đang làm gì để doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân tiếp nhận công nghệ thuận lợi hơn?
Đến nay, chúng tôi đã hoàn thiện và chuyển giao 54 quy trình kỹ thuật ứng dụng công nghệ cao, với 142 lượt chuyển giao cho doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ nông dân tại TP Hồ Chí Minh, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên. Các mô hình được chuyển giao góp phần nâng hiệu quả kinh tế 1,5 - 2 lần so với canh tác truyền thống.
Tuy nhiên, việc nhân rộng còn nhiều trở ngại. Chi phí đầu tư cảm biến, nhà màng thông minh, tự động hóa và mô hình nuôi trồng tuần hoàn tương đối lớn. Doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã, hộ nông dân khó tiếp cận tín dụng do vướng tài sản bảo đảm.
Một số kết quả nghiên cứu chưa phù hợp điều kiện thực tế vì chi phí cao, thiếu hỗ trợ kỹ thuật tại chỗ. Sản xuất nhỏ lẻ, tâm lý e ngại rủi ro cũng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư. Trong khi đó, nhân lực am hiểu cả nông nghiệp lẫn công nghệ số còn thiếu, kỹ năng vận hành thiết bị và quản lý dữ liệu chưa đồng đều.
Về dữ liệu, khó khăn là thông tin còn phân tán, thiếu chuẩn hóa, chưa cập nhật đồng bộ; hạ tầng thu thập, xử lý và thiết bị chuyên dụng còn hạn chế, mức độ tự chủ công nghệ chưa cao.
Để tháo gỡ, Khu NNCNC tập trung xây dựng hạ tầng dữ liệu, đề xuất nhiệm vụ công nghệ cấp Thành phố về sâu bệnh, dinh dưỡng và môi trường sản xuất; triển khai số hóa quản lý cây xanh, cây trồng nhà màng.
Chúng tôi định hướng phát triển phòng thí nghiệm thực địa, mở rộng hạ tầng thực nghiệm dùng chung để viện, trường, doanh nghiệp và dự án khởi nghiệp thử nghiệm, đánh giá công nghệ trước khi nhân rộng. Khu cũng nghiên cứu cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ mới, bảo đảm an toàn và tuân thủ pháp luật.
Cùng với đó, chúng tôi kiến nghị Nhà nước ưu tiên đặt hàng, ứng dụng các giải pháp đã được kiểm chứng để tạo thị trường ban đầu; huy động hợp tác công - tư, đẩy mạnh ươm tạo, kết nối chuyên gia, nhà đầu tư và doanh nghiệp đầu chuỗi. Chương trình SpeedUp với hơn 13 tỷ đồng hỗ trợ góp phần thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Chuyển giao cũng cần đi cùng hướng dẫn sử dụng. Khu đã đào tạo nghề, tập huấn kỹ thuật cho hàng nghìn lượt lao động nông thôn; tiếp tục hợp tác với viện, trường để phát triển đội ngũ liên ngành. Giáo trình điện tử, video hướng dẫn, dữ liệu mô hình và bản đồ số giúp người sản xuất thuận tiện tra cứu, thực hành.
Phòng Phân tích Kiểm nghiệm đạt chuẩn ISO/IEC 17025:2017, với hơn 330 chỉ tiêu, hỗ trợ kiểm soát chất lượng nguyên liệu, sản phẩm. Việc kết nối cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân và đơn vị phân phối được tăng cường để gắn nghiên cứu với sản xuất, tiêu thụ.
Mục tiêu của chúng tôi là những giải pháp dễ vận hành, phù hợp thực tế, tiết kiệm chi phí và mang lại hiệu quả rõ ràng cho người sản xuất.
Tiến sĩ có thể chia sẻ trong giai đoạn 2026 - 2030, Ban quản lý Khu NNCNC sẽ ưu tiên những nhiệm vụ nào để tiếp tục nâng năng suất, chất lượng và giá trị nông sản?
Chúng tôi tiếp tục gắn chuyển đổi số với bảo tồn nguồn gen, phát triển giống, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Đến năm 2030, Khu phấn đấu hình thành ít nhất hai bộ cơ sở dữ liệu chuẩn hóa về bệnh hại và dinh dưỡng cây trồng; hoàn thiện các mô hình AI chẩn đoán bệnh, cảnh báo dinh dưỡng và nền tảng quản lý sản xuất. Khu dự kiến triển khai bảy nhiệm vụ chuyển đổi số trọng tâm, xây dựng ít nhất ba mô hình trình diễn sản xuất thông minh, từng bước nâng khả năng tự chủ về dữ liệu, thuật toán và phần mềm cốt lõi.
Về nguồn gen, chúng tôi tiếp tục duy trì các nguồn giống hiện có, hướng đến xây dựng bộ sưu tập 200 dòng, giống vi sinh vật và cơ sở dữ liệu của 10 bộ sưu tập giống, dòng cây trồng, vật nuôi, thủy sản.
Khu phấn đấu tuyển chọn, đánh giá 3 - 5 dòng, giống thế hệ mới có năng suất, chất lượng cao, chống chịu sâu bệnh, hạn, mặn và nhiệt độ cực đoan; nâng tỷ lệ nội địa hóa công nghệ giống lên 70 - 85%, đăng ký bảo hộ 2 - 3 giống mới mỗi năm.
Chúng tôi cũng tập trung hoàn thiện hạ tầng, thu hút đầu tư, phát triển mạng lưới bảy khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao chuyên môn hóa; phấn đấu tỷ lệ lao động qua đào tạo tại các khu đạt trên 70%.
AI, IoT và công nghệ xử lý dữ liệu ngay tại thiết bị được kỳ vọng giúp giám sát môi trường, tự động hóa tưới, bón hiệu quả hơn. Công nghệ sinh học, phân tích đặc điểm di truyền và chỉnh sửa gen hỗ trợ chọn tạo giống; chế phẩm sinh học, công nghệ vi bao, nano góp phần giảm vật tư hóa học và xử lý phụ phẩm.
Ở khâu sau thu hoạch, công nghệ tách chiết và chế biến sâu giúp tăng giá trị, giảm tổn thất. Nhật ký điện tử, mã QR và công nghệ chuỗi khối hỗ trợ minh bạch quá trình sản xuất, truy xuất nguồn gốc, quản lý phát thải carbon.
Thông qua những nhiệm vụ này, chúng tôi kỳ vọng nâng năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh của nông sản và giúp sản xuất thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu.
Xin trân trọng cảm ơn ông!