Từ giống mới đến quy trình sản xuất
Trong nông nghiệp, kết quả nghiên cứu phát huy giá trị khi đáp ứng được nhu cầu của người trồng và thị trường. Với TP Hồ Chí Minh, nơi diện tích sản xuất chịu sức ép đô thị hóa, nâng cao chất lượng giống và tiết kiệm tài nguyên là những yêu cầu quan trọng để duy trì hiệu quả canh tác.
Tại Khu Nông nghiệp Công nghệ cao TP Hồ Chí Minh (AHTP), hoạt động nghiên cứu và chuyển giao được triển khai từ chọn tạo giống, hoàn thiện quy trình kỹ thuật đến đào tạo, hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ.
Ông Nguyễn Thanh Hiền, Phó Trưởng Ban Quản lý Khu Nông nghiệp Công nghệ cao TP Hồ Chí Minh, cho biết đơn vị đã hoàn thiện và chuyển giao 54 quy trình kỹ thuật ứng dụng công nghệ cao, với 142 lượt chuyển giao cho doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ nông dân tại TP Hồ Chí Minh, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên. Theo đánh giá của đơn vị, các quy trình góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế từ 1,5 đến 2 lần so với phương thức canh tác truyền thống.
Để phục vụ nghiên cứu, chọn tạo giống, AHTP duy trì các bộ sưu tập nguồn gen thuộc nhóm cây dược liệu, hoa - kiểng, hoa lan, vi sinh vật, nấm, cá cảnh và thủy sản. Các bộ sưu tập chuyên biệt gồm 220 giống dược liệu quý, 100 giống kiểng lá, 135 giống lan rừng và lan Dendrobium, cùng 500 chủng vi sinh vật ứng dụng trong nông nghiệp.
Trên cơ sở đó, đơn vị nghiên cứu, chọn lọc và lai tạo giống mới có năng suất, chất lượng cao, khả năng chống chịu sâu bệnh và thích ứng với điều kiện bất lợi. Công nghệ nuôi cấy mô, sinh học phân tử và vi sinh được ứng dụng để nhân nhanh giống sạch bệnh, kiểm soát chất lượng giống và phát triển chế phẩm sinh học.
AHTP đã làm chủ công nghệ sản xuất hạt giống lai F1, công bố nhiều giống mới như dưa lưới CNC01, dưa leo CNC04, ớt CNC02, khổ qua CNC03, cà chua bi CNC05 và lan Dendrobium CNC01-02. Giống dưa lưới AHRD201 đã được cấp bằng bảo hộ; một số giống khác đang khảo nghiệm tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định. Mỗi năm, đơn vị tiếp tục nghiên cứu, đăng ký bảo hộ từ 2 đến 3 giống mới.
Song song với phát triển giống, AHTP cho biết đã hoàn thiện 150 quy trình kỹ thuật, trong đó 16 quy trình được công nhận là tiến bộ kỹ thuật cấp quốc gia. Mỗi năm, đơn vị tổ chức sản xuất, cung ứng hàng triệu cây giống cấy mô, cây hậu nuôi cấy mô và giống rau ăn quả; khoảng 3,5 triệu con cá cảnh; 4,9 triệu meo phôi nấm ăn, nấm dược liệu và hơn 870 kg hạt giống.
Ở phía doanh nghiệp, việc ứng dụng công nghệ cũng được triển khai để kiểm soát sản xuất. Ông Trần Anh Tuấn, Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Năng lượng 102, cho biết mô hình trồng nấm mối đen của doanh nghiệp sử dụng hệ thống theo dõi môi trường, điều khiển thiết bị tự động. Người vận hành có thể quản lý từ xa bằng điện thoại hoặc máy tính, đồng thời theo dõi thông tin về phôi nấm, lịch chăm sóc, tình trạng nhiễm bệnh và sản lượng.
Theo ông Tuấn, mô hình được triển khai trong container 20 feet, quy mô khoảng 2.500 phôi mỗi container; sản lượng đạt khoảng 500-600 kg nấm tươi/container/vụ. Chu kỳ sản xuất từ 3 đến 3,5 tháng/vụ, tương đương khoảng 3 vụ mỗi năm.
Dữ liệu kết hợp với kiểm tra thực tế giúp doanh nghiệp phát hiện sớm dấu hiệu bất thường, cách ly phôi nhiễm bệnh và điều chỉnh quy trình chăm sóc. Tuy nhiên, các chức năng trí tuệ nhân tạo (AI) như nhận diện bất thường qua hình ảnh, phân tích dữ liệu và dự báo sản lượng vẫn cần tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm trước khi vận hành rộng rãi.
Gỡ điểm nghẽn để mở rộng ứng dụng
Từ kết quả nghiên cứu đến ứng dụng trên diện rộng, còn có khoảng cách về điều kiện đầu tư và khả năng tiếp nhận. Theo đánh giá của AHTP, chuyển giao công nghệ nông nghiệp hiện gặp khó khăn về hạ tầng, nguồn vốn và nhân lực. Chi phí đầu tư nhà màng thông minh, hệ thống cảm biến và tự động hóa tương đối lớn.
Với doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã và nông hộ, khoản đầu tư này có thể tạo áp lực lên dòng tiền. Không phải cơ sở nào cũng có đủ vốn để trang bị đồng bộ thiết bị và phần mềm quản lý. Theo đánh giá của đơn vị, việc tiếp cận tín dụng còn khó khăn khi tài sản bảo đảm hạn chế, trong khi hiệu quả đầu tư có thể cần nhiều vụ sản xuất mới đánh giá đầy đủ.
Bên cạnh vốn, người sử dụng còn cần thời gian để làm quen và vận hành công nghệ. Ông Nguyễn Thành Lộc, Giám đốc Công ty Cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao Thanh Bình, cho biết ứng dụng AI và dữ liệu cảm biến giúp doanh nghiệp theo dõi thông số kỹ thuật thường xuyên, giảm việc phải trực tiếp đến từng khu vực canh tác để kiểm tra. Thông tin truyền về thiết bị di động giúp người quản lý chủ động điều chỉnh kỹ thuật hoặc chỉ đạo nhân viên xử lý vấn đề phát sinh.
Tuy nhiên, theo ông Lộc, chuyển đổi số cần thời gian, nhân lực và kinh phí. Doanh nghiệp cần được đào tạo, tập huấn, tiếp cận công nghệ mới, đồng thời có điều kiện khảo nghiệm thực tế để đánh giá hiệu quả trước khi đầu tư quy mô lớn.
Để hỗ trợ quá trình này, AHTP định hướng phát triển mô hình phòng thí nghiệm thực địa (Living Lab), mở rộng hạ tầng thực nghiệm dùng chung cho viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và nhóm khởi nghiệp thử nghiệm công nghệ trong điều kiện gần với sản xuất.
Mô hình hướng đến đánh giá khả năng vận hành, độ ổn định và hiệu quả kinh tế trước khi nhân rộng. Qua thử nghiệm, đơn vị nghiên cứu và người sử dụng có thể cùng điều chỉnh, hoàn thiện giải pháp, thay vì chuyển giao một chiều từ nơi nghiên cứu sang cơ sở sản xuất.
Tiến sĩ Phạm Đình Dũng, Trưởng Ban Quản lý Khu Nông nghiệp Công nghệ cao TP Hồ Chí Minh, cho biết giai đoạn 2026 - 2030, đơn vị định hướng phát triển nông nghiệp công nghệ cao và nông nghiệp đô thị gắn với chuyển đổi số, bảo tồn nguồn gen, chọn tạo giống mới, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Để các kết quả nghiên cứu được ứng dụng rộng hơn, mối liên kết giữa nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân, ngân hàng và nhà phân phối cần được củng cố. Cơ sở nghiên cứu cung cấp giống, quy trình và chuyên gia; doanh nghiệp tổ chức sản xuất, đầu tư thiết bị, phát triển thị trường; người sản xuất cần được hỗ trợ về kỹ thuật, vốn và tiêu chuẩn chất lượng.
Khi các bên cùng tham gia từ khâu xác định nhu cầu đến thử nghiệm và tiêu thụ, giải pháp có thêm cơ sở để phù hợp với điều kiện thực tế. Hiệu quả chuyển giao vì thế cần được nhìn từ khả năng giảm chi phí, ổn định năng suất, nâng chất lượng sản phẩm và cải thiện thu nhập của người sản xuất.