Chỉnh đồng hồ ở châu Âu và những cuộc cách mạng đo đếm thời gian trong lịch sử

Cuối tuần này, đồng hồ tại Đức sẽ được chỉnh lùi một giờ để chuyển sang giờ mùa Đông. Nhưng cách tính thời gian mà con người ngày nay vẫn sử dụng không phải lúc nào cũng như hiện nay. Trong lịch sử, đã có những cuộc cải cách nhằm thay đổi cả lịch năm, tuần lễ và cách tính giờ, phản ánh những biến động về chính trị, tôn giáo và sự phát triển của khoa học, kỹ thuật.

Đồng hồ Thế giới trên Quảng trường Alexanderplatz ở Berlin: Trên phần hình trụ kim loại, đồng hồ hiển thị giờ của khoảng 150 thành phố trên thế giới. Ảnh: Thuỳ Linh – P/v TTXVN tại Đức
Đồng hồ Thế giới trên Quảng trường Alexanderplatz ở Berlin: Trên phần hình trụ kim loại, đồng hồ hiển thị giờ của khoảng 150 thành phố trên thế giới. Ảnh: Thuỳ Linh – P/v TTXVN tại Đức

Ngày 20/9/1793, nhà toán học Gilbert Romme trình bày trước Quốc hội Pháp đề án xây dựng một hệ thống tính thời gian mới. Sau khi chế độ quân chủ bị lật đổ, những người làm cách mạng muốn xóa bỏ các biểu tượng của chế độ cũ, trong đó có hệ thống lịch gắn với Kitô giáo.

Theo đề án, từ năm 1792, các năm được tính theo kỷ nguyên Cộng hòa, với ngày đầu năm là 22/9, thời điểm trùng với ngày thành lập Cộng hòa Pháp và một điểm phân trong năm. Đặc biệt, tuần bảy ngày theo truyền thống Do Thái giáo và Kitô giáo được thay bằng tuần mười ngày. Một số ngày bổ sung được bố trí để bảo đảm lịch phù hợp với độ dài các tháng.

Tuy nhiên, cuộc cải cách không đạt được mục tiêu đề ra. Người dân nông thôn vẫn gắn bó với lịch Kitô giáo, một phần vì lịch này có nhiều ngày nghỉ hơn. Khi Napoléon lên nắm quyền, lịch cũ được khôi phục. Romme qua đời hai năm sau bài diễn văn trước Quốc hội, không kịp chứng kiến sự thất bại của công trình mà ông theo đuổi.

Nỗ lực cải cách lịch ở Pháp là một ví dụ cho thấy cách tính thời gian không chỉ phục vụ nhu cầu sinh hoạt mà còn gắn với quyền lực và những biến động của xã hội. Qua nhiều thế kỷ, lịch và giờ đã thay đổi cùng sự phát triển của các nền văn minh, tôn giáo, nhà nước và công nghệ.

Từ thời cổ đại, con người đã tìm cách nhận biết và hệ thống hóa chu kỳ ngày đêm, các mùa trong năm để phục vụ đời sống. Những công trình như Stonehenge ở Anh và Đĩa trời Nebra ở Đức cho thấy con người từ sớm đã quan sát các hiện tượng thiên văn. Người Ai Cập cổ đại đã xác định được một năm dài khoảng 365 ngày. Sau đó, Julius Caesar đưa năm nhuận vào lịch Julius nhằm điều chỉnh độ dài năm. Hệ thống này tiếp tục được cải tiến dưới thời Hoàng đế Augustus, trước khi lịch Gregorius được Giáo hoàng Gregorius XIII đưa vào sử dụng năm 1582. Đây là hệ thống lịch được sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay. Tên gọi tháng Bảy và tháng Tám cũng gắn với Julius Caesar và Augustus.

Không chỉ các chu kỳ tự nhiên, hoạt động của nhà nước cũng góp phần định hình cách tính thời gian. Trong các xã hội thời kỳ đầu, năm có thể được tính theo nhiệm kỳ của người cai trị hoặc quan chức. Ngày 1/1 trở thành ngày đầu năm gắn với thời điểm các quan chấp chính La Mã nhậm chức.

Sau đó, hệ thống tính năm lấy mốc Chúa Giêsu ra đời dần phổ biến cùng với sự phát triển của Kitô giáo. Đến thế kỷ VI, tu sĩ Dionysius Exiguus xây dựng hệ thống tính năm này. Qua các cuộc chinh phạt, Thập tự chinh và quá trình thực dân hóa của châu Âu, hệ thống lịch gắn với Kitô giáo ngày càng được mở rộng.

Cách mạng Pháp từng tìm cách thay thế hệ thống lịch này nhưng không thành công. Trong khi đó, những tiến bộ khoa học và kỹ thuật lại tạo ra những thay đổi sâu rộng trong cách con người đo đếm thời gian.

Sự phát triển của đường sắt và động cơ hơi nước khiến việc đi lại giữa các thành phố nhanh hơn đáng kể. Trước đó, mỗi địa phương chủ yếu sử dụng giờ Mặt trời riêng: khi Mặt trời lên vị trí cao nhất trên bầu trời thì được tính là 12 giờ trưa. Do thời điểm này khác nhau giữa các địa phương, việc thống nhất giờ trở nên cần thiết khi tàu hỏa phải vận hành theo lịch trình chính xác. Năm 1884, hệ thống múi giờ được thiết lập, đánh dấu bước chuyển từ giờ địa phương sang giờ chuẩn.

Bộ chuông nhạc Münchner Glockenspiel trên tháp Tòa thị chính Mới - biểu tượng của TP Munich- sẽ phát nhạc và trình diễn chuyển động hình nhân vào lúc 11:00, 12:00 hàng ngày. Ảnh: Thuỳ Linh - P/v TTXVN tại Đức)
Bộ chuông nhạc Münchner Glockenspiel trên tháp Tòa thị chính Mới - biểu tượng của TP Munich- sẽ phát nhạc và trình diễn chuyển động hình nhân vào lúc 11:00, 12:00 hàng ngày. Ảnh: Thuỳ Linh - P/v TTXVN tại Đức)

Dù vậy, giờ chuẩn vẫn có thể chênh lệch đáng kể so với giờ Mặt trời tại từng địa phương. Tại Frankfurt chẳng hạn, giờ đồng hồ nhanh hơn giờ Mặt trời thực tế hơn 25 phút. Vì vậy, khi người dân đón năm mới vào lúc 0 giờ ngày 1/1 theo đồng hồ, giờ Mặt trời tại đây mới chỉ khoảng 23 giờ 34 phút của ngày hôm trước.

Chiến tranh cũng thúc đẩy những thay đổi trong cách sử dụng thời gian. Mùa Xuân năm 1916, Đức lần đầu áp dụng giờ mùa Hè trong Chiến tranh thế giới thứ nhất nhằm tận dụng ánh sáng ban ngày, qua đó tăng thời gian hoạt động của các nhà máy phục vụ chiến tranh.

Một câu chuyện khác cho thấy sự khác biệt giữa các hệ thống lịch có thể tạo ra những tình huống đặc biệt. Năm 1917, khi Vladimir Ilyich Lenin rời Zürich ngày 9/4 theo lịch Gregorius để trở về Nga, nơi ông đến vẫn sử dụng lịch Julius, chậm hơn lịch Gregorius 13 ngày. Vì vậy, khi Lenin tới Petrograd, ngày theo lịch Julius mới là 3/4.

Sau Cách mạng Tháng Mười, chính quyền Nga chuyển sang sử dụng lịch Gregorius. Ngày 31/1/1918 được nối tiếp bằng ngày 14/2, khiến 13 ngày bị bỏ qua trên lịch. Sự thay đổi này cũng làm dịch chuyển ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười: sự kiện diễn ra ngày 25/10 theo lịch Julius được tính là ngày 7/11 theo lịch Gregorius.

Không chỉ lịch năm, tuần lễ cũng từng trở thành đối tượng cải cách. Nhà lãnh đạo Liên Xô Josef Stalin tìm cách thay thế tuần bảy ngày bằng tuần năm ngày, không có ngày nghỉ cuối tuần thống nhất, nhằm thúc đẩy sản xuất. Tuy nhiên, mô hình này cũng không duy trì được lâu.

Ngày nay, cách tổ chức thời gian không chỉ chịu ảnh hưởng của nhà nước và tôn giáo mà còn gắn chặt với hoạt động kinh tế. Những dịp mua sắm như Black Friday được các tập đoàn tận dụng để thúc đẩy doanh thu. Từ một hệ thống được xây dựng để theo dõi các chu kỳ tự nhiên, lịch và giờ ngày càng phản ánh cách con người tổ chức đời sống, sản xuất và tiêu dùng. Những ngày lễ thương mại như Black Friday có trở thành một phần bền vững trong đời sống hay chỉ là xu hướng nhất thời vẫn cần thời gian để trả lời.

Thuỳ Linh (P/v TTXVN tại Đức)

Dành cho bạn

Hàn Quốc và Mỹ kết thúc tập trận rà phá thủy lôi đa quốc gia

Hàn Quốc và Mỹ kết thúc tập trận rà phá thủy lôi đa quốc gia

Hàn Quốc và Mỹ vừa kết thúc cuộc tập trận rà phá thủy lôi đa quốc gia lần thứ 9 năm 2026 ngoài khơi thành phố cảng Busan, với sự tham gia của lực lượng hải quân đến từ 15 quốc gia đối tác, nhằm nâng cao năng lực tác chiến và khả năng phối hợp trong các hoạt động rà phá thủy lôi trên biển.

Trại Andersonville ở Georgia ngày 17/8/1864. Ảnh: historydefined.net

Nhà tù tử thần khiến gần 13.000 tù binh thiệt mạng – Kỳ 1

Nhà tù Andersonville (còn được gọi là Trại Sumter) là một cơ sở giam giữ quân sự do phe Liên minh miền Nam thành lập trong cuộc Nội chiến Mỹ. Được xây dựng năm 1864 tại hạt Sumter ở bang Georgia, nhà tù này hoạt động trong khoảng 14 tháng. Chỉ trong thời gian ngắn đó, nơi đây đã trở thành một trong những cơ sở giam giữ tù binh lớn nhất và gây chết chóc nhiều nhất ở Bắc Mỹ.

Giải mã công nghệ mạng lưới giúp UAV Nga duy trì kết nối khi tập kích Kiev

Giải mã công nghệ mạng lưới giúp UAV Nga duy trì kết nối khi tập kích Kiev

Mạng lưới liên lạc dạng lưới cho phép các thiết bị bay không người lái (UAV) chuyển tiếp tín hiệu cho nhau, mở rộng phạm vi điều khiển và truyền hình ảnh trực tiếp về người vận hành. Công nghệ này đang được Nga sử dụng để duy trì kết nối với UAV tầm xa, hỗ trợ trinh sát và điều chỉnh hoạt động khi tiếp cận mục tiêu tại Ukraine.

Hệ thống tên lửa đạn đạo chiến thuật Iskander. Ảnh: Bộ Quốc phòng Liên bang Nga

Tình báo Ukraine: Nga dự trữ tới 700 tên lửa đạn đạo, hơn 6.000 UAV sẵn sàng tập kích kéo dài

Tổng cục Tình báo Quốc phòng Ukraine (HUR) cho biết Nga đang tích lũy lượng lớn tên lửa và khoảng 6.200 UAV tấn công, đồng thời duy trì năng lực sản xuất tới 10.000 UAV mỗi tháng. Theo đánh giá của HUR, việc mở rộng kho vũ khí giúp Moskva duy trì các đợt tập kích kéo dài, gia tăng sức ép lên hệ thống phòng không Ukraine.