Cơ sở dữ liệu vị trí việc làm - Nền tảng quản trị công hiệu quả

Phóng viên TTXVN có cuộc trao đổi với đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Sửu (đoàn thành phố Huế) xung quanh Kết luận số 107-KL/TW (ngày 17/10/2026) về việc hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm trong hệ thống chính trị, gắn liền với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ và quản lý biên chế.

thay.jpg

Mới đây, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 107-KL/TW (ngày 17/10/2026) về việc hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm trong hệ thống chính trị, gắn liền với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ và quản lý biên chế. Theo đó, các cơ quan, đơn vị và địa phương sẽ tập trung hoàn thành phương án giao biên chế giai đoạn 2027 - 2031 cùng cơ sở dữ liệu vị trí việc làm thống nhất ngay trong quý IV/2026. Xoay quanh ý nghĩa, tính thiết thực và những yêu cầu đặt ra từ thực tiễn của chủ trương quan trọng này, phóng viên TTXVN đã có cuộc trao đổi với đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Sửu (đoàn thành phố Huế).

Thưa bà, Bộ Chính trị đã quyết định và đặt ra yêu cầu phải hoàn thành việc xác định vị trí việc làm và xây dựng cơ sở dữ liệu trong năm 2026. Trên cương vị là đại biểu Quốc hội, bà đánh giá thế nào về ý nghĩa của chủ trương này?

Theo tôi, đây là một chủ trương rất đúng đắn và quan trọng, thể hiện bước chuyển trong tư duy quản trị của hệ thống chính trị: từ quản lý con người và biên chế theo cách hành chính truyền thống sang quản trị dựa trên vị trí việc làm, năng lực thực thi và kết quả công việc.

Tôi cho rằng, ý nghĩa lớn nhất của chủ trương này là giúp trả lời cho được ba câu hỏi lớn, đó là: Nhà nước cần những công việc gì? Nhà nước cần những người có năng lực như thế nào? Nhà nước sử dụng nguồn nhân lực công ra sao để phục vụ nhân dân tốt hơn?

Điều này đặc biệt cấp thiết trong bối cảnh chúng ta đang tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy, vận hành chính quyền địa phương hai cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số. Bộ máy đã thay đổi, tinh gọn thì chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu nhân lực cũng phải thay đổi tương ứng.

Nếu nhiệm vụ đã chuyển giao nhưng vị trí việc làm, nhân lực và năng lực thực thi chưa được điều chỉnh kịp thời, rất dễ dẫn đến tình trạng nơi thừa người nhưng thiếu chuyên môn, nơi khối lượng công việc lớn lại thiếu cán bộ đáp ứng yêu cầu.

Vì vậy, phải chuyển từ tư duy “có bao nhiêu người, giao bao nhiêu việc” sang tư duy “có những nhiệm vụ gì? cần năng lực nào? và cần bao nhiêu người để hoàn thành nhiệm vụ?”. Khi làm được điều đó, chúng ta mới có cơ sở để tuyển dụng đúng người, bố trí đúng việc, đào tạo đúng nhu cầu, đánh giá đúng kết quả và sử dụng ngân sách hiệu quả hơn.

Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng, tinh gọn bộ máy không có nghĩa là cắt giảm cơ học số lượng cán bộ, công chức, viên chức. Mục tiêu quan trọng nhất là nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của bộ máy, bảo đảm mỗi người được bố trí phù hợp với năng lực, mỗi vị trí có trách nhiệm rõ ràng và mỗi nhiệm vụ đều có kết quả cụ thể.

Thưa bà, việc xây dựng cơ sở dữ liệu vị trí việc làm cần được triển khai như thế nào để vừa bảo đảm tiến độ, vừa phản ánh đúng thực tiễn đa dạng của các địa phương?

Tôi cho rằng, nhiệm vụ này hoàn toàn cần được thực hiện khẩn trương, nhưng điều quan trọng là phải bảo đảm tiến độ đi đôi với chất lượng, tránh chạy theo số lượng biểu mẫu hoặc hoàn thành mang tính hình thức.

Về lý luận, cần phân biệt rõ ba vấn đề: Vị trí việc làm, nhu cầu nhân lực và quyết định giao biên chế. Trong đó, vị trí việc làm phải được xác định từ chức năng, nhiệm vụ, sản phẩm đầu ra, khối lượng công việc và yêu cầu năng lực. Sau đó mới xác định nhu cầu nhân lực và làm căn cứ xem xét phương án biên chế theo thẩm quyền.

Về thực tiễn, chúng ta không bắt đầu từ con số không. Những danh mục, bản mô tả công việc và khung năng lực đã được xây dựng, kiểm chứng và còn phù hợp cần được kế thừa. Trọng tâm là rà soát, chuẩn hóa, cập nhật và kết nối dữ liệu, nhất là sau những thay đổi về tổ chức bộ máy và phân cấp, phân quyền.

Quá trình thực hiện nhiệm vụ tại địa phương cho thấy yêu cầu này rất rõ. Chẳng hạn như tại Hà Nội, sau khi sắp xếp, thành phố có 126 xã, phường; khoảng 109.800 cán bộ, công chức, viên chức được bố trí trực tiếp ở cấp xã, phường. Với quy mô đó, việc xác định đúng vị trí, đúng năng lực và đúng khối lượng công việc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Trong khi đó, tại thành phố Huế, từ 133 đơn vị hành chính cấp xã trước đây, thành phố Huế đã sắp xếp, thu gọn còn 40 xã, phường. Do vậy, việc xác định vị trí việc làm phải tính đến đặc thù quản lý đô thị, bảo tồn di sản, phát triển du lịch, cũng như yêu cầu phục vụ người dân ở các địa bàn miền núi và ven biển.

Từ hai ví dụ về quá trình thực hiện nhiệm vụ tại địa cho thấy, không thể áp dụng một định mức cứng nhắc cho mọi địa phương. Mà phải thống nhất nguyên tắc, tiêu chuẩn và cấu trúc dữ liệu, nhưng việc xác định nhu cầu nhân lực phải phù hợp với nhiệm vụ và điều kiện thực tế của từng nơi.

Theo bà, để hoàn thành nhiệm vụ này trong năm 2026, chúng ta cần tập trung vào các giải pháp nào?

Theo tôi, để hoàn thành nhiệm vụ trong năm 2026, cần tập trung vào bốn giải pháp cơ bản sau:

Một là, xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất, bảo đảm thông tin đầy đủ, chính xác, có nguồn gốc, được kiểm chứng và có khả năng cập nhật thường xuyên.

Hai là, xác định vị trí việc làm dựa trên nhiệm vụ và sản phẩm đầu ra, không lấy số người hiện có làm căn cứ áp đặt. Mỗi vị trí phải rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ yêu cầu năng lực và rõ kết quả cần đạt.

Ba là, gắn dữ liệu với việc bố trí, điều chuyển, đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá cán bộ. Dữ liệu chỉ có giá trị khi thực sự hỗ trợ quyết định quản lý, chứ không chỉ phục vụ báo cáo.

Bốn là, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, đồng thời bảo đảm an toàn, phân quyền truy cập và bảo vệ thông tin theo quy định.

Tôi tin rằng, với quyết tâm chính trị được chuyển thành phương pháp làm việc khoa học, trách nhiệm rõ ràng và tổ chức thực hiện quyết liệt, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, tạo nền tảng cho quản lý biên chế giai đoạn 2027-2031 và tiếp tục hiện đại hóa nền công vụ.

Điều quan trọng nhất là việc xây dựng cơ sở dữ liệu vị trí việc làm không phải là đích đến cuối cùng, mà đó là công cụ để nâng cao chất lượng quản trị quốc gia. Thước đo cuối cùng không phải là chúng ta có bao nhiêu dữ liệu hay hoàn thành bao nhiêu biểu mẫu, mà là bộ máy có vận hành hiệu quả hơn không, cán bộ có làm việc tốt hơn không, thủ tục có thuận lợi hơn không và người dân có thực sự hài lòng hơn không.

Bởi suy cho cùng, mọi đổi mới trong tổ chức bộ máy và công tác cán bộ đều phải hướng đến mục tiêu cao nhất: Bộ máy tinh gọn hơn, cán bộ trách nhiệm hơn, quản trị hiệu quả hơn và nhân dân được phục vụ tốt hơn.

Trân trọng cảm ơn đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Sửu!

Bài và ảnh: Hải Ngọc/TTXVN (thực hiện)

Dành cho bạn

Lấy hạnh phúc làm thước đo quản trị - Bài cuối: Cho sự phát triển bền vững

Lấy hạnh phúc làm thước đo quản trị - Bài cuối: Cho sự phát triển bền vững

Một nhiệm vụ khi triển khai mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa tại Hà Nội là phát triển hạ tầng đồng bộ, hiện đại gắn với xây dựng không gian sống thông minh, nâng cao chất lượng, tiện ích phục vụ nhân dân và phát triển kinh tế theo hướng liên kết, hợp tác nâng cao thu nhập đi đôi với đảm bảo công bằng trong tiếp cận cơ hội phát triển. Thực tế ở hai xã thí điểm của Hà Nội cho thấy, để nâng cao chất lượng sống của người dân, trước hết phải tạo được nền tảng phát triển kinh tế và giải quyết những hạn chế về hạ tầng đã tồn tại nhiều năm.

Lấy hạnh phúc làm thước đo quản trị - Bài 2: Bộ máy gần dân

Lấy hạnh phúc làm thước đo quản trị - Bài 2: Bộ máy gần dân

Từ quầy tiếp nhận hồ sơ hành chính đến những cuộc đối thoại về đất đai, giải phóng mặt bằng, yêu cầu đổi mới hoạt động chính quyền cơ sở đang được đặt ra cụ thể tại hai xã Thư Lâm và Phúc Thịnh - nơi Hà Nội triển khai thí điểm mô hình xã xã hội chủ nghĩa. Chính quyền gần dân không chỉ được đánh giá bằng thái độ phục vụ của cán bộ mà còn ở khả năng giải quyết công việc, tiếp nhận kiến nghị và bảo đảm quyền tham gia, giám sát của người dân.

Tuyên bố chung Việt Nam - Ba Lan

Tuyên bố chung Việt Nam - Ba Lan

Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, Thủ tướng Cộng hòa Ba Lan Donald Tusk đã thăm chính thức Việt Nam từ ngày 24 - 26/10/2026. Nhân dịp này, hai bên đã ra Tuyên bố chung về việc thiết lập quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Ba Lan.

Lấy hạnh phúc làm thước đo quản trị- Bài 1: Người dân là trung tâm và mục tiêu phát triển

Lấy hạnh phúc làm thước đo quản trị- Bài 1: Người dân là trung tâm và mục tiêu phát triển

Khi làm việc với Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã gợi mở với Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội về việc nghiên cứu xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa trên địa bàn Thủ đô. Đây là vấn đề hệ trọng và rất mới, đòi hỏi có sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại với đích đến là phát triển cộng đồng, lấy hạnh phúc của nhân dân làm thước đo quản trị cơ sở. Hà Nội chọn hai xã Thư Lâm và Phúc Thịnh thí điểm xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận rất lớn của nhân dân. Việc triển khai xây dựng vừa cụ thể hóa các giá trị, mục tiêu, đặc trưng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam trong điều kiện phát triển mới của Thủ đô, vừa hoàn thiện mô hình quản trị cấp cơ sở phù hợp với yêu cầu xây dựng Thủ đô “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại - Hạnh phúc”.