Đưa Nghị quyết 57 vào cuộc sống - Bài 1: Nghiên cứu từ nhu cầu thực tế

Nghị quyết 57 yêu cầu đưa khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển. TP Hồ Chí Minh thúc đẩy nghiên cứu gắn với nhu cầu thực tế, mở thêm cơ chế hỗ trợ đưa sản phẩm ra thị trường và phát triển dịch vụ số phục vụ người dân.

Để các chính sách phát huy hiệu quả, cơ quan quản lý, nhà khoa học và doanh nghiệp cần phối hợp tháo gỡ vướng mắc trong quá trình đặt hàng, nghiên cứu, thử nghiệm và thương mại hóa sản phẩm. Đồng thời, Thành phố cần hướng dẫn người dân phát triển kỹ năng để chủ động sử dụng tiện ích và bảo vệ thông tin cá nhân trên môi trường số.

baotintuc_tr_phuong-minh-phung1.jpg
Cán bộ phường Minh Phụng (TP Hồ Chí Minh) tìm hiểu cách khai thác hệ thống phục vụ quản lý hồ sơ và theo dõi tiến độ công việc.

Bài 1: Nghiên cứu từ nhu cầu thực tế

Từ sáng kiến tại cơ sở đến nghiên cứu trong trường đại học, TP Hồ Chí Minh cần giải pháp công nghệ đáp ứng đúng nhu cầu sử dụng. Việc xác định rõ vấn đề và có nguồn lực đồng hành giúp các nhóm phát triển, thử nghiệm và hoàn thiện sản phẩm phù hợp với thực tế.

Sáng kiến bắt đầu từ công việc

Khi xây dựng Hệ thống Giám sát số Minh Phụng, ông Lê Văn Thuận, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy phường Minh Phụng (TP Hồ Chí Minh) bắt đầu từ những vướng mắc trong công việc. Hồ sơ của các chi bộ lưu trữ phân tán khiến việc tìm kiếm, tổng hợp và đối chiếu mất thời gian. Muốn xác định nhiệm vụ nào còn chậm, cán bộ phải chờ báo cáo rồi tiếp tục rà soát thông tin.

Từ thực tế đó, ông Thuận thiết kế hệ thống theo hướng tập trung hồ sơ và hỗ trợ theo dõi tiến độ thường xuyên. Tuy nhiên, đưa quy trình lên môi trường số mới chỉ là một phần công việc. Ứng dụng còn phải phù hợp với cán bộ, đảng viên có trình độ sử dụng công nghệ khác nhau và đáp ứng yêu cầu bảo vệ dữ liệu công tác Đảng. “Trong quá trình xây dựng và thử nghiệm, khó khăn lớn nhất đối với tôi là làm sao để hệ thống vừa đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát vừa dễ sử dụng đối với cán bộ, đảng viên tại các chi bộ”, ông Thuận chia sẻ.

Theo ông Thuận, trước đây khi triển khai kiểm tra giám sát, đoàn công tác phải yêu cầu đơn vị cung cấp hồ sơ và tài liệu liên quan. Quá trình chuẩn bị, tổng hợp thông tin mất thêm thời gian, trong khi việc khai thác lại tài liệu chưa thuận tiện. Những hạn chế này đặt ra nhu cầu tổ chức hồ sơ có hệ thống để cán bộ chủ động tra cứu.

Với ứng dụng đang xây dựng, mỗi chi bộ có tài khoản để cập nhật nghị quyết, báo cáo, biên bản và tài liệu liên quan. Thông tin tập trung vừa phục vụ lưu trữ hồ sơ điện tử của chi bộ, vừa giúp Đảng ủy và Ủy ban Kiểm tra theo dõi tình hình thực hiện nhiệm vụ, xác định nội dung chậm tiến độ để đôn đốc.

baotintuc_tl_phuong-minh-phung.jpg
Ông Lê Văn Thuận, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy phường Minh Phụng, trực tiếp tham gia thiết kế và xây dựng Hệ thống Giám sát số Minh Phụng.

Ông Thuận cho biết, các chức năng phải bám quy trình công việc thực tế. Người sử dụng cần cập nhật thống nhất nhưng thao tác phải đơn giản, hạn chế những bước phức tạp. Trong quá trình thử nghiệm, việc hướng dẫn và tiếp nhận phản hồi giúp người xây dựng nhận diện nội dung cần điều chỉnh để ứng dụng phù hợp hơn với cách làm việc tại chi bộ.

Cùng với tính thuận tiện, ông xác định phân quyền và kiểm soát truy cập là yêu cầu quan trọng. Mỗi nhóm tài khoản chỉ tiếp cận thông tin trong phạm vi nhiệm vụ được giao. Hệ thống cần ghi nhận lịch sử hoạt động để phục vụ đối chiếu, đồng thời có phương án lưu trữ, sao lưu phù hợp. Việc đưa tài liệu lên phải tuân thủ quy định về bảo mật và tính chất của từng loại tài liệu.

Trong thời gian tới, ông Thuận dự kiến tiếp tục đơn giản hóa việc cập nhật hồ sơ, hoàn thiện công cụ tìm kiếm và cảnh báo chậm tiến độ. Ông cũng sẽ rà soát cơ chế phân quyền, tổ chức hướng dẫn và tiếp nhận phản hồi trong quá trình vận hành. Mục tiêu là giúp người sử dụng xử lý công việc thuận tiện hơn, tránh tạo thêm áp lực cập nhật.

“Tôi quan niệm rằng chuyển đổi số không nhất thiết phải bắt đầu từ những hệ thống lớn, phức tạp hay tốn kém mà có thể bắt đầu từ những giải pháp thiết thực, giải quyết đúng khó khăn trong công việc hằng ngày, tận dụng hiệu quả nguồn lực sẵn có và từng bước hoàn thiện trong quá trình sử dụng”, ông Lê Văn Thuận bày tỏ.

Từ hồ sơ phân tán đến theo dõi tập trung

Khó khăn ban đầu

Hồ sơ lưu trữ ở nhiều nguồn. Cán bộ mất thời gian tìm kiếm, tổng hợp và đối chiếu khi phục vụ kiểm tra, giám sát.

Hướng giải quyết

Mỗi chi bộ có tài khoản cập nhật tài liệu. Hệ thống tập trung hồ sơ, hỗ trợ theo dõi tiến độ và đôn đốc công việc.

Phần tiếp tục hoàn thiện

Đơn giản hóa thao tác, rà soát phân quyền và tiếp nhận phản hồi để điều chỉnh theo nhu cầu sử dụng.

Nguồn: Thông tin do ông Lê Văn Thuận cung cấp.

Câu chuyện tại phường Minh Phụng cho thấy khả năng hình thành sáng kiến từ người hiểu công việc. Từ góc độ nghiên cứu về đổi mới sáng tạo trong khu vực công, Tiến sĩ Trần Quý, Viện trưởng Viện Phát triển kinh tế số Việt Nam, cho rằng cán bộ và công chức nắm rõ nghiệp vụ nhưng có thể ngại đề xuất vì lo va chạm hoặc làm sai.

Theo ông Quý, cơ quan, đơn vị cần có phương pháp giúp cán bộ nhận diện những nhu cầu cấp thiết. Lãnh đạo cần tạo điều kiện để người trực tiếp làm việc nói ra khó khăn và đề xuất cải tiến. Khi xác định rõ vấn đề, đơn vị mới có cơ sở lựa chọn công việc tự giải quyết hoặc nội dung cần đặt hàng bên ngoài.

Đối với những nhiệm vụ cần chuyên môn nghiên cứu, sự phối hợp giữa địa phương, viện, trường và doanh nghiệp có vai trò quan trọng. PGS.TS Thoại Nam, Giám đốc Trung tâm Kỹ thuật điện toán thuộc Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh), nhận thấy các phường, xã cần công cụ hỗ trợ trong điều kiện nhân lực có hạn nhưng phải phục vụ nhiều người dân và doanh nghiệp.

Tuy nhiên, sản phẩm mà các đơn vị nghiên cứu và doanh nghiệp đang cung cấp chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu địa phương. Theo ông, các bên cần cùng trao đổi để xác định công việc phải giải quyết, xem giải pháp hiện có phù hợp đến đâu và cần phát triển thêm nội dung nào. Nhà trường có chuyên môn nghiên cứu, còn doanh nghiệp cần tham gia triển khai và tiếp tục phát triển sản phẩm.

Đặt hàng phải có người cùng thực hiện

Từ phía doanh nghiệp công nghệ, ông Lê Hồng Minh, Nhà sáng lập và Chủ tịch Công ty Cổ phần Tập đoàn VNG, đề cập yêu cầu gắn nghiên cứu với người sử dụng. Saigon AI Hub, chương trình do VNG và Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh đồng sáng lập, dự kiến tiếp nhận những vấn đề thực tế trước khi lựa chọn nhóm nghiên cứu tham gia.

baotintuc_tl_khach-tham-quan.jpg
Nhà khoa học và đơn vị sử dụng trao đổi yêu cầu để phát triển giải pháp phù hợp với công việc thực tế.

Doanh nghiệp, cơ quan nhà nước và các tổ chức sẽ đề xuất vấn đề cần ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI). Chương trình lựa chọn bài toán rồi mời các nhóm đăng ký, đề xuất giải pháp. Đơn vị có nhu cầu cần đồng hành bằng dữ liệu và đội ngũ am hiểu nghiệp vụ để hỗ trợ nghiên cứu, thử nghiệm.

“Để giải quyết hiệu quả những bài toán thực tế, họ cần làm việc trực tiếp với những người hiểu rõ vấn đề, có khả năng cung cấp dữ liệu, chia sẻ kinh nghiệm và hỗ trợ quá trình nghiên cứu, thử nghiệm giải pháp”, ông Minh chia sẻ.

Theo ông, nhóm nghiên cứu có thể giỏi công nghệ nhưng chưa có đầy đủ kiến thức chuyên môn trong từng ngành. Sự tham gia của người trực tiếp làm việc giúp họ hiểu bối cảnh và đánh giá khả năng áp dụng. Chương trình cũng cần lựa chọn những bài toán có ý nghĩa, đủ hấp dẫn để thu hút nhóm nghiên cứu có năng lực.

Đặt hàng nghiên cứu cần gì?

Bài toán rõ

Xác định công việc cần giải quyết và người sử dụng.

Dữ liệu phù hợp

Cung cấp thông tin và kết quả nghiên cứu có thể kế thừa.

Người cùng làm

Kết nối nhóm nghiên cứu với người am hiểu nghiệp vụ.

Điều kiện thử nghiệm

Bố trí nguồn lực để kiểm chứng và điều chỉnh giải pháp.

Nguồn: Tổng hợp từ ý kiến các nhân vật trong bài.

PGS.TS Phạm Tấn Thi, Trưởng phòng Khoa học và Công nghệ Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh), cho rằng yêu cầu cụ thể từ doanh nghiệp và nhà nước giúp nhà trường xác định chuyên môn cần huy động. Có nhiệm vụ một trường thực hiện được, nhưng cũng có vấn đề đòi hỏi nhiều đơn vị liên kết theo thế mạnh của mình.

Để tổ chức nghiên cứu, các nhóm cần tiếp cận dữ liệu và kết quả đã có. Trong không gian TP Hồ Chí Minh sau hợp nhất, ông Thi đề xuất tạo điều kiện tìm hiểu những đề tài đã thực hiện ở các địa bàn liên quan. Việc tập hợp và số hóa nguồn tri thức này giúp nhà khoa học kế thừa công việc trước đó, tìm hướng phối hợp và tiếp tục phát triển giải pháp.

Với ngập lụt hoặc dự báo thiên tai trong điều kiện biến đổi khí hậu, chuyên môn của một ngành khó đáp ứng đầy đủ yêu cầu. Nhóm nghiên cứu cần kết hợp kiến thức về môi trường, xây dựng và công nghệ. Theo ông Thi, mỗi người phải có chuyên môn sâu nhưng cũng cần tìm được ngôn ngữ chung để làm việc với người thuộc lĩnh vực khác.

baotintuc_tr_chuyen-gia-nghien-cuu.jpg
Hoạt động kết nối giữa nhà trường, doanh nghiệp và cơ quan quản lý tạo điều kiện đưa nghiên cứu vào ứng dụng.

Ở góc độ quản lý, ông Trương Minh Huy Vũ, Phó Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh, nhấn mạnh các đề bài nghiên cứu AI cần xuất phát từ thực tiễn và có tầm ảnh hưởng đủ lớn. Việc đề xuất cần mở rộng đến doanh nghiệp, tổ chức xã hội và những đơn vị trực tiếp phục vụ người dân.

“Khi Thành phố cùng các đối tác đặt ra một bài toán, chúng tôi cũng cần xác định rõ trách nhiệm đồng hành, từ việc cung cấp dữ liệu, điều kiện thử nghiệm đến các nguồn lực cần thiết khác”, ông Vũ nhấn mạnh.

Trách nhiệm đồng hành còn cần phù hợp với thời gian nghiên cứu. PGS.TS Phạm Tấn Thi lưu ý có kết quả có thể chuyển giao sớm nhưng cũng có nghiên cứu cần 5 - 10 năm mới phát huy giá trị. Cơ quan quản lý và doanh nghiệp cần kiên nhẫn để các nhóm tiếp tục tích lũy tri thức, thử nghiệm và hoàn thiện công nghệ.

baotintuc_tr_ong-vu-ubnd-tpchm-251026.jpg
Ông Trương Minh Huy Vũ, Phó Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh (áo trắng, thứ 2 từ trái sang), tìm hiểu sản phẩm công nghệ tại gian hàng trưng bày tại Ngày hội Công dân số TP Hồ Chí Minh 2026.

Với ông Lê Văn Thuận, công việc trước mắt vẫn là hoàn thiện hệ thống qua nhu cầu của từng chi bộ. Ông kỳ vọng ứng dụng giúp giảm thời gian tổng hợp báo cáo và hạn chế việc cung cấp hồ sơ trùng lặp. Kỳ vọng ấy cần tiếp tục được kiểm chứng trong vận hành, qua phản hồi và khả năng sử dụng của cán bộ.

Từ sáng kiến tại cơ sở đến nhiệm vụ nghiên cứu có nhiều đơn vị tham gia, yêu cầu chung là xác định đúng khó khăn và có người theo đuổi quá trình giải quyết. Đó cũng là bước đầu để triển khai Nghị quyết 57 bằng những công việc cụ thể, tạo cơ sở phát triển giải pháp có thể ứng dụng lâu dài.

Bài 2: Đưa công nghệ ra thị trường

Lưu Niệm/Báo Tin tức và Dân tộc

Dành cho bạn

Phó giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Thị Thu Phương, Trưởng khoa Dược học, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng làm việc trong phòng thí nghiệm. Ảnh: Mạnh Minh/TTXVN

Từ hợp tác quốc tế đến tự chủ công nghệ y sinh: Bài học từ Hàn Quốc

Hội nghị Thượng đỉnh Sinh học thế giới 2026 tại Hàn Quốc cho thấy trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra những cơ hội mới trong nghiên cứu và chăm sóc sức khỏe. Với Việt Nam, bài học quan trọng không chỉ là tiếp nhận công nghệ tiên tiến, mà còn là tận dụng hợp tác quốc tế để phát triển nhân lực, xây dựng năng lực nghiên cứu và từng bước làm chủ công nghệ y sinh theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW.