Kinh nghiệm Ấn Độ: Đưa AI đến với nông dân

Từ dữ liệu đất đai, cây trồng đến trí tuệ nhân tạo (AI), vệ tinh và thiết bị bay không người lái, Ấn Độ đang từng bước xây dựng hệ sinh thái nông nghiệp công nghệ cao, trong đó AI được kỳ vọng trở thành công cụ trực tiếp hỗ trợ nông dân ra quyết định, nâng năng suất, tiết kiệm nước và giảm chi phí. Đây cũng là những kinh nghiệm mở ra dư địa hợp tác với Việt Nam.
Chú thích ảnh
Giáo sư C.S.C. Sekhar, Trưởng Ban Nghiên cứu Kinh tế Nông nghiệp thuộc Viện Tăng trưởng Kinh tế trả lời phỏng vấn. Ảnh: Quang Trung/TTXVN

Trao đổi với phóng viên TTXVN tại New Delhi, Giáo sư C.S.C. Sekhar, Trưởng Ban Nghiên cứu Kinh tế nông nghiệp tại Viện Tăng trưởng kinh tế, cho biết trong bối cảnh quỹ đất hạn chế nhưng nhu cầu lương thực lớn, Ấn Độ phải tìm cách khai thác hiệu quả hơn từng đơn vị đất đai. Công nghệ được kỳ vọng không chỉ tăng năng suất mà còn giảm chi phí, cải thiện thu nhập cho nông dân và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên.

Một trong những nền tảng quan trọng là xây dựng hạ tầng dữ liệu cho nông nghiệp. Thông qua AgriStack và Sứ mệnh Nông nghiệp kỹ thuật số, Ấn Độ đang hình thành hệ thống dữ liệu về nông dân, đất đai và cây trồng, tạo cơ sở để các ứng dụng AI cung cấp dịch vụ nông nghiệp nhanh và chính xác hơn.

Đáng chú ý, AI đang được đưa trực tiếp đến người nông dân. Tháng 2/2026, Ấn Độ triển khai giai đoạn đầu Bharat-VISTAAR - nền tảng hạ tầng công cộng kỹ thuật số ứng dụng AI, tích hợp dữ liệu từ AgriStack với kiến thức và quy trình canh tác của Hội đồng Nghiên cứu nông nghiệp Ấn Độ.

Thông qua nền tảng này, nông dân có thể nhận tư vấn theo từng địa điểm về quản lý cây trồng, thời tiết, giá nông sản, sâu bệnh và sức khỏe đất, kể cả bằng hình thức tương tác qua giọng nói. Điều quan trọng là AI không chỉ cung cấp thông tin mà hướng tới hỗ trợ những quyết định cụ thể trong sản xuất: khi nào gieo trồng, cần bao nhiêu nước và phân bón, phát hiện sâu bệnh ở đâu và thời điểm nào nên bán nông sản.

AI cũng được kết hợp với vệ tinh, viễn thám, cảm biến, Internet vạn vật và thiết bị bay không người lái để hình thành mô hình nông nghiệp chính xác. Dữ liệu thu thập từ các công nghệ này giúp xác định khu vực cần tưới nước, bón phân hoặc xử lý sâu bệnh, qua đó hướng tới nguyên tắc sử dụng ít hơn nhưng hiệu quả hơn.

Một ví dụ là chương trình “Mỗi giọt nước, thêm mùa vụ”, tập trung vào tưới nhỏ giọt và tưới phun mưa. Đến tháng 6/2026, hơn 11 triệu ha đã được đưa vào hệ thống tưới tiêu vi mô. Theo Giáo sư C.S.C. Sekhar, kinh nghiệm này cho thấy công nghệ chỉ phát huy hiệu quả trên quy mô lớn khi đi cùng chính sách hỗ trợ và khả năng tiếp cận tài chính của nông dân.

Ấn Độ đồng thời áp dụng những giải pháp tương đối đơn giản nhưng có khả năng tạo tác động lớn như gieo sạ lúa và bón phân sâu, giúp giảm lao động, hạn chế thất thoát vật tư. Với thiết bị bay không người lái, mô hình “công nghệ như một dịch vụ” cho phép nông dân thuê dịch vụ phun thuốc, bón phân hoặc khảo sát đồng ruộng thay vì phải tự đầu tư thiết bị.

Chú thích ảnh
Giáo sư C.S.C. Sekhar (trái), Trưởng Ban Nghiên cứu Kinh tế Nông nghiệp thuộc Viện Tăng trưởng Kinh tế trả lời phỏng vấn. Ảnh: Quang Trung/TTXVN

Theo Giáo sư C.S.C. Sekhar, Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm của Ấn Độ trong xây dựng AgriStack, ứng dụng AI, thiết bị bay không người lái, tưới tiêu chính xác, gieo sạ và bón phân sâu. Ngược lại, Ấn Độ có thể học hỏi Việt Nam về tổ chức thị trường, vai trò của hợp tác xã và liên kết giữa các hộ nông dân.

Trong khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược toàn diện tăng cường, nông nghiệp thông minh và chế biến nông sản được xác định là những lĩnh vực có tiềm năng thúc đẩy hợp tác công nghệ. Hai nước có thể tăng cường phối hợp trong dự báo thời tiết, cảnh báo sâu bệnh, chia sẻ dữ liệu thị trường, nghiên cứu giống thích ứng biến đổi khí hậu, cũng như kết nối các trường đại học và viện nghiên cứu.

Từ kinh nghiệm của Ấn Độ, có thể thấy AI trong nông nghiệp không đơn thuần là đưa một công cụ mới đến đồng ruộng. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng kết nối dữ liệu, khoa học, công nghệ, chính sách, doanh nghiệp và người nông dân để biến dữ liệu thành những quyết định sản xuất cụ thể.

Đối với Việt Nam và Ấn Độ, dư địa hợp tác vì thế không chỉ nằm ở việc chuyển giao thiết bị hay ứng dụng riêng lẻ, mà còn ở cùng nghiên cứu, thử nghiệm và phát triển các giải pháp AI phù hợp với điều kiện sản xuất, giúp nông dân nâng cao hiệu quả, sử dụng tài nguyên tiết kiệm và thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu.

Ngọc Thúy - Quang Trung (TTXVN)

Dành cho bạn

Ứng dụng AI, IoT tăng năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai

Ứng dụng AI, IoT tăng năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, thiên tai diễn biến khó lường, yêu cầu đặt ra đối với ngành khí tượng thủy văn là phải đổi mới mạnh mẽ, đặc biệt là trong ứng dụng khoa học và công nghệ. Đây chính là chìa khóa để hiện đại hóa hệ thống quan trắc, nâng cao chất lượng dự báo và phục vụ tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

Phó giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Thị Thu Phương, Trưởng khoa Dược học, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng làm việc trong phòng thí nghiệm. Ảnh: Mạnh Minh/TTXVN

Từ hợp tác quốc tế đến tự chủ công nghệ y sinh: Bài học từ Hàn Quốc

Hội nghị Thượng đỉnh Sinh học thế giới 2026 tại Hàn Quốc cho thấy trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra những cơ hội mới trong nghiên cứu và chăm sóc sức khỏe. Với Việt Nam, bài học quan trọng không chỉ là tiếp nhận công nghệ tiên tiến, mà còn là tận dụng hợp tác quốc tế để phát triển nhân lực, xây dựng năng lực nghiên cứu và từng bước làm chủ công nghệ y sinh theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW.

Hướng tới xây dựng chính quyền AI và đô thị thông minh

Hướng tới xây dựng chính quyền AI và đô thị thông minh

Khi dữ liệu số được xác định là "sinh khí" của quản trị hiện đại, việc thiết lập hành lang an toàn thông tin kiên cố kết hợp cùng việc chủ động đón đầu làn sóng công nghệ đột phá như trí tuệ nhân tạo tự chủ và Bản sao số đã trở thành bài toán chiến lược sống còn.

Hà Nội yêu cầu công trình lớn giám sát bụi bằng công nghệ AI

Hà Nội yêu cầu công trình lớn giám sát bụi bằng công nghệ AI

Ngày 17/10, nhằm ứng phó ô nhiễm không khí, UBND thành phố Hà Nội đã triển khai đồng bộ, quyết liệt các biện pháp kiểm soát nguồn phát thải, quan trắc, giám sát, dự báo, truyền thông bảo vệ sức khỏe nhân dân, bảo đảm nguyên tắc “6 rõ” (rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền).