Xuất khẩu nông lâm thủy sản 8 tháng tăng 12%

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản tháng 8/2025 ước đạt 5,71 tỷ USD, giảm 3% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù vậy, tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản 8 tháng năm 2025 đạt 45,37 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2024. 
Chú thích ảnh
Sản xuất đồ gỗ nội thất xuất khẩu sang thị trường Mỹ, Anh, EU ở nhà máy của Công ty TNHH Hai thành viên Thiết Đan. Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN

Trong số đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản đạt 24,42 tỷ USD, tăng 13,8%; sản phẩm chăn nuôi đạt 410,7 triệu USD, tăng 24,5%; thủy sản đạt 7,03 tỷ USD, tăng 11,5%; lâm sản đạt 11,9 tỷ USD, tăng 6,6%...

Xét theo vùng lãnh thổ, châu Á là thị trường xuất khẩu lớn nhất của các mặt hàng nông lâm thủy sản của Việt Nam với thị phần chiếm 43,1%. Thị trường lớn tiếp theo là châu Mỹ và châu Âu với thị phần lần lượt là 23,2% và 14,6%. Thị phần của 2 khu vực châu Phi và châu Đại Dương nhỏ, chiếm lần lượt 3,1% và 1,3%.

 So với cùng kỳ năm trước, ước giá trị xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam  sang khu vực châu Á tăng 1,2%; châu Mỹ tăng 10,6%; châu Âu tăng 38,7%; châu Phi tăng 2 lần; và châu Đại Dương tăng 2,8%.

Xét theo thị trường chi tiết, Hoa Kỳ với thị phần 20,9%, Trung Quốc với thị phần 19% và Nhật Bản với thị phần 7,1%. Đây là 3 thị trường xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản lớn nhất của Việt Nam. So với cùng kỳ năm trước, ước giá trị xuất khẩu  nông lâm thủy sản của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ tăng 8,1%, Trung Quốc tăng 2,6%, và Nhật Bản tăng 19,8%.

Cà phê vẫn là mặt hàng có sự tăng trưởng mạnh nhất. Tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu cà phê 8 tháng đầu năm 2025 đạt 1,2 triệu tấn với 6,42 tỷ USD, tăng 8,7% về khối lượng và tăng 59,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2024. Giá cà phê xuất khẩu bình quân 8 tháng năm 2025 ước đạt 5580,1 USD/tấn, tăng 46,4% so với cùng kỳ năm ngoái.

Cũng nhờ giá xuất khẩu tăng tốt mà nhiều mặt hàng dù sản lượng xuất khẩu giảm nhưng giá trị xuất khẩu vẫn tăng. Điển hình, cao su xuất khẩu đạt 1,1 triệu tấn với 1,94 tỷ USD, giảm 1,2% về khối lượng nhưng tăng 10,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2024. Hay hạt điều với kim ngạch 3,24 tỷ USD, tăng 16,4% dù sản lượng giảm (1,2%), nhờ giá xuất khẩu tăng 17,8%. Tương tự, hạt tiêu xuất khẩu đạt 1,12 tỷ USD, tăng 26,9%, dù khối lượng giảm gần 10%. 

Ngược lại, mặt hàng gạo vẫn có giá trị xuất khẩu giảm mặc dù có sự gia tăng về sản lượng. Xuất khẩu gạo dù tăng 2,2% về sản lượng nhưng giảm 17,5% về giá trị do giá bình quân giảm 19,3%, đạt 504,9 USD/tấn.

Mặt hàng chè còn giảm cả về khối lượng (7,9%) và giá trị (11%). Tổng khối lượng chè xuất khẩu 8 tháng đạt 86.600 tấn với 144,7 triệu USD.

Hàng rau quả đạt 4,62 tỷ USD, giảm 2,2% so với cùng kỳ năm ngoái. Nguyên nhân bởi xuất khẩu rau quả sang Trung Quốc – thị trường chiếm 54,6% nhưng giảm 15,1%.

Bích Hồng (TTXVN)

Dành cho bạn

Yêu cầu kiểm soát tàu thuyền, an toàn giao thông trước áp thấp nhiệt đới

Yêu cầu kiểm soát tàu thuyền, an toàn giao thông trước áp thấp nhiệt đới

Bộ Xây dựng vừa ban hành công điện gửi các đơn vị, địa phương về việc chủ động ứng phó với áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông, nhằm triển khai Công điện 51/CĐ-BCĐ-BNNMT ngày 12/9/2026 của Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự Quốc gia về việc chủ động ứng phó với áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông.

Giá gạo xuất khẩu vẫn duy trì trạng thái ổn định

Giá gạo xuất khẩu vẫn duy trì trạng thái ổn định

Trong tuần qua, trên thị trường gạo châu Á tuần qua chứng kiến đà tăng giá tại Ấn Độ và Thái Lan do những lo ngại về thời tiết khô hạn, trong khi giá gạo xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục duy trì trạng thái ổn định trong khoảng 440-445 USD/tấn.