Nước thải tại các làng nghề: SOS
Vấn đề môi trường mà các làng nghề đang phải đối mặt không chỉ giới hạn ở trong phạm vi các làng nghề mà còn ảnh hưởng đến người dân ở vùng lân cận. Theo Báo cáo Môi trường quốc gia năm 2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, kết quả khảo sát tại 52 làng nghề thì có 46% làng nghề bị ô nhiễm môi trường nặng, 27% ô nhiễm vừa và 27% ô nhiễm nhẹ.
Nước thải của làng nghề tái chế nhựa Triều Khúc (xã Tân Triều, huyện Thanh Trì) được xả thẳng ra các ao, hồ, kênh mương khiến nguồn nước bị ô nhiễm nặng nề, bốc mùi hôi thối. Ảnh: Minh Nghĩa/TTXVN |
Hiện nay, hầu hết các làng nghề ở Việt Nam đều bị ô nhiễm môi trường (trừ các làng nghề không sản xuất hoặc dùng các nguyên liệu không gây ô nhiễm như thêu, may...). Chất lượng môi trường tại hầu hết các làng nghề đều không đạt tiêu chuẩn khiến người lao động phải tiếp xúc với các nguy cơ gây hại cho sức khỏe, trong đó 95% từ bụi, 85,9% từ nhiệt và 59,6% từ hóa chất.
Ô nhiễm nguồn nước ở các làng nghề nông thôn Việt Nam là do các hợp chất vô cơ độc hại như acid, bazo, muối, kim loại nặng… thường thấy ở các làng nghề cơ khí, mạ, đúc, tẩy nhuộm. Đây là những nguồn ô nhiễm cực kỳ nguy hiểm, nhất là tính chất của nước thải dệt nhuộm được xếp vào loại nước thải nguy hiểm nhất trong các loại nước thải, không những gây tác động đến nguồn nước mặt mà còn ảnh hưởng tới nguồn nước ngầm, gây nhiều bệnh hiểm nghèo cho người dân vùng lân cận.
Cụ thể, tại các làng nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp như làng nghề tái chế sắt thép Đa Hội, đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, giấy Phú Lâm... góp một lượng lớn nước thải không qua xử lý xả thẳng vào hệ thống thủy nông. Sông Ngũ Huyện Khê khi chảy qua các làng nghề này đã tiếp nhận nước thải có chứa rất nhiều hoá chất như axit, xút, thuốc tẩy, phèn, phẩm màu… từ các làng nghề nên bị ô nhiễm nghiêm trọng, trở thành kênh dẫn nước thải của hệ thống các làng nghề.
Tại tỉnh Hải Dương, làng nghề nấu rượu Phú Lộc, toàn bộ nước thải của gần 200 hộ làm nghề nấu rượu, bánh đa và chất thải chăn nuôi được xả thẳng xuống ao, rồi đổ ra kênh thủy nông chảy ngang qua thôn mà không qua bất cứ công đoạn xử lý nào.
Cần sự phối hợp chặt chẽ
Theo Tiến sỹ Đào Trọng Tứ, chuyên gia chính sách và thể chế về Tài nguyên nước, Giám đốc Trung tâm Phát triển bền vững Tài nguyên Nước và thích nghi biến đổi khí hậu, trước mắt cần tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo vệ nguồn tài nguyên nước như: chú trọng công tác truyền thông về xử lý nguồn nước thải tại các làng nghề trên các phương tiện thông tin đại chúng; nâng cao năng lực công tác truyền thông môi trường trong các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, đặc biệt là cán bộ cấp huyện và cấp xã, phối hợp chặt chẽ với các tổ chức, đoàn thể, các phương tiện thông tin đại chúng trong các hoạt động truyền thông.
Về xây dựng cơ chế chính sách, cần khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào hoạt động xử lý nước thải tại các làng nghề; có cơ chế hỗ trợ, ưu đãi vốn đầu tư của địa phương vào hoạt động xử lý nước thải tại các làng nghề. Nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp quy và hướng dẫn thực hiện công tác bảo vệ môi trường tại các làng nghề, chú trọng xây dựng những quy định, tiêu chuẩn cụ thể về môi trường cho các nhóm làng nghề.
Về nâng cao năng lực quản lý, tiếp tục kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường, đồng thời tăng cường bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về xử lý nguồn nước thải tại các làng nghề cho cán bộ lãnh đạo và cán bộ chuyên trách quản lý môi trường cấp huyện và xã. Tăng cường các hoạt động phối hợp thanh, kiểm tra, đấu tranh phòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật về xử lý nguồn nước thải tại các làng nghề.
Ngoài ra, tăng cường nguồn lực tài chính, đẩy mạnh xã hội hoạt động xử lý nước thải tại các làng nghề như đảm bảo các nguồn lực về tài chính cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng về xử lý nước thải ở khu vực nông thôn nhất là các làng nghề theo tinh thần Nghị quyết của Đảng.
Cần nắm vững quan điểm chủ động, tích cực, phòng ngừa trong quản lý và xử lý nguồn nước thải. Chủ động, tích cực trong đấu tranh bảo vệ môi trường được thể hiện, trước hết là luôn đề cao ý thức cảnh giác, thường xuyên theo dõi nắm bắt tình hình, tổ chức thu thập, phân tích và dự báo chính xác những diễn biến có liên quan tới môi trường. Nắm tình hình đòi hỏi phải toàn diện, chủ động kết hợp nhiều nguồn, nắm cả tình hình trong và ngoài nước, đặc điểm của các nhóm làng nghề, từng làng nghề cụ thể… để chủ động trong phân tích, đánh giá, có chính sách đúng đắn, chính xác, kịp thời trong xử lý tình huống và giải quyết triệt để những vấn đề bức xúc về môi trường.
Đồng thời, khuyến khích ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ nhằm giảm thiểu nguồn nước thải gây ô nhiễm môi trường, theo hướng phát triển bền vững; ưu tiên cơ chế và tài chính cho nghiên cứu khoa học, công nghệ về xử lý nguồn nước thải tại các làng nghề (công nghệ xanh, sạch, thân thiện môi trường) ở các trung tâm, cơ sở nghiên cứu, nhà trường, các nhà máy và doanh nghiệp; tích cực ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học môi trường xử lý nguồn nước thải vào hoạt động của các địa phương đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ như chuyển giao công nghệ sạch, công nghệ xử lý nguồn nước thải cho các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ theo hướng vận hành đơn giản, ổn định, tiết kiệm chi phí và xử lý ô nhiễm môi trường nước đạt hiệu quả.
Bên cạnh đó, mở rộng quan hệ hợp tác và hội nhập quốc tế, tăng cường quản lý Nhà nước về xử lý nguồn nước thải tại các làng nghề. Để thực hiện tốt chủ trương này cần chủ động hợp tác, hội nhập quốc tế, coi trọng việc tham gia và thực hiện các điều ước quốc tế; tăng cường trao đổi thông tin, kinh nghiệm, đối thoại chính sách với các nước về xử lý nguồn nước thải tại các làng nghề và thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ.