Tiến độ tổng thể dự án Nhiệt điện Thái Bình 2 đạt 83%

Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đang tập trung triển khai các giải pháp đồng bộ đưa dự án Nhiệt điện (NMNĐ) Thái Bình 2 về đích.
Chú thích ảnh
Quang cảnh Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2. Ảnh: Thế Duyệt/TTXVN

Theo PVN, đến nay, tiến độ tổng thể dự án đạt khoảng 83% trong đó công tác thiết kế đạt 99,5%; công tác mua sắm thiết bị, vật tư đạt 91,5%; công tác gia công, chế tạo và vận chuyển đạt 93,5% và công tác thi công xây dựng đạt gần 78,5%.

Hầu hết các hạng mục xây dựng chính của NMNĐ Thái Bình 2 đều đã hoàn thành cơ bản và đang vào giai đoạn hoàn thiện. Đặc biệt, về công tác chuẩn bị phát điện, dự án đã hoàn tất các hạng mục công việc liên quan đến công tác đóng điện ngược sân phân phối (SPP) 220kV và vận hành SPP 220kV ổn định, an toàn; hoàn thành quy trình phối hợp vận hành giữa Nhà máy nhiệt điện Thái Bình (của EVN) và NMNĐ Thái Bình 2.

Liên quan đến tình trạng thiết bị trên công trường, theo quy định của Hợp đồng đã ký, thời hạn bảo hành thiết bị sẽ hết hạn vào tháng 11/2018. Tuy nhiên, hiện nay, PVN và PVC đang đàm phán với các Nhà cung cấp thiết bị để gia hạn thời hạn bảo hành, phù hợp với tiến độ của dự án.

Bên cạnh đó, PVN cũng đã huy động nguồn lực từ các đơn vị thành viên của Tập đoàn như Vietsovpetro, PV Power, PTSC, Trường Cao Đẳng Dầu khí là những đơn vị hàng đầu về kỹ thuật bảo trì, bảo dưỡng thiết bị trực tiếp đến công trường xây dựng NMNĐ Thái Bình 2 hỗ trợ Tổng thầu PVC thường xuyên kiểm tra và bảo trì thiết bị, chuẩn bị sẵn sàng cho công tác chạy thử và vận hành Nhà máy.

Đặc biệt, trong đợt khảo sát hiện trạng thiết bị, máy móc đã lắp đặt tại NMNĐ Thái Bình 2, Nhà thầu Dealim (Hàn Quốc) đã đánh giá tổng thể các thiết bị chính của hai tổ máy và khẳng định các thiết bị chính tại NMNĐ Thái Bình 2 hoàn toàn đáp ứng theo yêu cầu kỹ thuật, tuân thủ các khuyến cáo của Nhà sản xuất.

Mặc dù khối lượng công việc để hoàn thành dự án NMNĐ Thái Bình 2 còn lại không nhiều (khoảng 17%) nhưng do một số vướng mắc trong quá trình triển khai Dự án như năng lực tài chính của Tổng thầu ngày càng yếu, việc chuyển đổi hình thức Hợp đồng EPC từ trọn gói sang hỗn hợp cũng gặp một số khó khăn và cần có sự hướng dẫn của cấp có thẩm quyền.

Một số cơ chế để tháo gỡ dòng tiền cho dự án nói chung và cho PVC nói riêng cũng cần sự chấp thuận của cấp có thẩm quyền (PVN đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương về các cơ chế thực hiện Dự án) dẫn đến tiến độ thực hiện Dự án chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra.

Tuy nhiên, nhận thức được tầm quan trọng của dự án NMNĐ Thái Bình 2, PVN đã tập trung cao nhất các nguồn lực, quyết tâm đưa vào vận hành NMNĐ Thái Bình 2 trong thời gian sớm nhất, để hạn chế đến mức thấp nhất các ảnh hưởng tiêu cực đối với dự án, Tập đoàn và các Nhà thầu.

Cụ thể, PVN đã đưa ra một số giải pháp đột phá nhằm hỗ trợ dòng tiền cho dự án nói chung và cho Tổng thầu PVC nói riêng, phấn đấu đưa Dự án vào vận hành trong thời gian sớm nhất.

Giải pháp đầu tiên là phải áp dụng linh hoạt cơ chế tạm thanh toán và thanh toán cho Tổng thầu PVC bao gồm điều chỉnh mốc thanh toán, điều chỉnh tỷ lệ tạm ứng, thu hồi tạm ứng…

Đối với các hạng mục công việc do Tổng thầu PVC và các Nhà thầu phụ triển khai chậm hoặc không triển khai, Chủ đầu tư đã thực hiện cắt giảm phạm vi công việc và giao cho đơn vị có đủ năng lực thực hiện.

PVN đã giao Ban Quản lý Dự án trực tiếp tham gia cùng PVC đàm phán với Nhà thầu cung cấp thiết bị về gia hạn bảo lãnh, bảo hành, công tác vận hành, chạy thử.

Dự án Nhiệt điện Thái Bình 2 công suất 1.200 MW do PVN làm chủ đầu tư với tổng mức đầu tư điều chỉnh đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận là 41.799 tỷ VNĐ. Sau khi hoàn thành đưa vào vận hành, hàng năm nhà máy sẽ cung cấp trên 7,8 tỷ kWh điện cho lưới điện Quốc gia.

(TTXVN/Báo Tin tức)

Dành cho bạn

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài cuối: Những tuyến đường đến các cực tăng trưởng mới

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài cuối: Những tuyến đường đến các cực tăng trưởng mới

Cao tốc, sân bay và cảng biển tạo lợi thế tiếp cận, nhưng dòng vốn chỉ ở lại nơi có đất sạch, điện, nước, nhân lực, môi trường và thủ tục đủ tin cậy. Từ Vân Phong, Nhơn Hội, Buôn Ma Thuột đến Liên Chiểu và các đô thị dọc cao tốc Lâm Đồng, miền Trung - Tây Nguyên đang hình thành nhiều điểm hội tụ mới. Thách thức là biến các dự án riêng lẻ thành hệ sinh thái và phân chia lợi ích liên vùng.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa

Hạ tầng có thể rút ngắn một chuyến xe, nhưng chưa chắc nâng giá trị một tấn nông sản. Giá trị chỉ tăng khi vùng nguyên liệu được số hóa, sản phẩm được bảo quản, chế biến, kiểm định và bán bằng thương hiệu của mình. Từ cà phê, sầu riêng ở Đắk Lắk, rau hoa và trái cây Lâm Đồng đến dữ liệu di sản Huế, chuỗi giá trị mới đang đòi hỏi hạ tầng rộng hơn đường sá: hạ tầng số, tiêu chuẩn và năng lực sáng tạo.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 2: Để cảng biển không thành 'đảo hạ tầng'

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 2: Để cảng biển không thành 'đảo hạ tầng'

Miền Trung có chuỗi cảng nước sâu trải dọc bờ biển, còn phía Tây là vùng sản xuất rộng lớn nối sang Lào và Campuchia nhưng một cầu cảng lớn không mặc nhiên có nguồn hàng, cũng như một tuyến cao tốc chưa chắc tạo nên hành lang kinh tế. Cuộc cạnh tranh mới nằm ở năng lực tổ chức hậu phương cảng, vận tải đa phương thức và hệ sinh thái dịch vụ giữ hàng hóa ở lại lâu hơn.