Tăng trưởng GDP quý III đạt 9,95%, kéo mức tăng bình quân 9 tháng lên 9,01%, một kết quả ấn tượng trong bối cảnh kinh tế thế giới diễn biến phức tạp. Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở con số tuyệt đối, mà ở đà tăng trưởng liên tục tốc độ cao qua từng quý: quý I tăng 8,15%, quý II tăng 8,81% và quý III đã chạm ngưỡng sát hai con số với 9,95%. Sự đi lên theo hình xoắn ốc này phản ánh một sức bật nội tại mạnh mẽ, nhiều động lực được kích hoạt và đà phục hồi mang tính chu kỳ chứ không phải sự bộc phát nhất thời.
Nhưng để hiểu đầy đủ ý nghĩa của kết quả này, cần đặt nó trong yêu cầu lớn hơn mà Trung ương đã xác lập từ đầu nhiệm kỳ. Kết luận số 18-KL/TW Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (Kết luận 18) xác định mục tiêu phấn đấu tăng trưởng "hai con số" giai đoạn 2026-2030, đồng thời nhấn mạnh đây là "nhiệm vụ chính trị trọng tâm", phải được cụ thể hóa thành nhiệm vụ, kết quả và sản phẩm đối với từng ngành, cơ quan, địa phương, gắn với trách nhiệm người đứng đầu.
Từ mục tiêu đó, sự thay đổi tư duy trong điều hành cũng được định hướng rõ. Tại cuộc họp với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương về đánh giá nguồn lực phát triển đất nước gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng kinh tế hai con số và xác lập mô hình tăng trưởng mới ngày 20/5/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: "tăng trưởng hai con số không thể là kết quả của mô hình tăng trưởng cũ được kéo dài thêm". Theo đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là huy động thêm nguồn lực, mà phải thay đổi cách tổ chức, phân bổ và sử dụng nguồn lực, thúc đẩy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng suất.
Từ một mục tiêu ở tầm chiến lược, và những định hướng cụ thể, yêu cầu quan trọng hơn là biến mục tiêu ấy thành chương trình hành động cụ thể. Để nhanh chóng đưa Kết luận 18 vào cuộc sống, Chính phủ đã kịp thời ban hành Nghị quyết 109/NQ-CP ngày 16/4/2026 về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV và các kết luận của Trung ương, tiếp đó là Nghị quyết 169/NQ-CP ngày 27/6/2026 nhằm giao chỉ tiêu tăng trưởng cụ thể cho từng địa phương. Cách làm này cho thấy mục tiêu tăng trưởng không được đặt ở cấp Trung ương một cách chung chung, mà đang được chuyển hóa thành những nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể hơn ở từng cấp, từng địa bàn.
Quan trọng hơn, yếu tố then chốt chính là những cải cách thể chế đột phá, sửa đổi và ban hành các chính sách cụ thể nhằm tháo gỡ triệt để các "điểm nghẽn" về thể chế, thủ tục hành chính và khơi thông các nguồn lực phát triển. Ngày 29/04/2026 Chính phủ đã ban hành 8 nghị quyết về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh. Các nghị quyết đặt mục tiêu rõ ràng cắt giảm trên 50% thời gian và chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và người dân. Tăng cường phân cấp, phân quyền triệt để cho chính quyền các cấp; rà soát, tinh gọn toàn bộ quy trình, thủ tục kiểm tra chuyên ngành, cấp phép xây dựng, phòng cháy chữa cháy, môi trường và thủ tục đầu tư tại các khu công nghiệp.
Bên cạnh đó, để giải quyết "điểm nghẽn" giải ngân đầu tư công và hạ tầng kết nối – động lực tăng trưởng hàng đầu, Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt thông qua các văn bản điều hành tập trung rút ngắn thủ tục chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng và quy hoạch; linh hoạt chuyển vốn từ các dự án chậm tiến độ sang các dự án có khả năng hấp thụ vốn tốt. Nhờ đó, giải ngân đầu tư công 9 tháng năm 2026 đạt khoảng 643 nghìn tỷ đồng (tăng 12,9% so với cùng kỳ). Chính phủ cũng ban hành các quyết định điều hành tháo gỡ vướng mắc về vật liệu xây dựng, giải phóng mặt bằng cho các dự án hạ tầng chiến lược như Đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, hệ thống đường cao tốc liên vùng, hạ tầng cảng biển, sân bay, logistics, hạ tầng số, trung tâm dữ liệu và trí tuệ nhân tạo (AI).
Có thể thấy, vai trò của điều hành vĩ mô không nằm ở một quyết định đơn lẻ mà ở khả năng phối hợp nhiều chính sách cùng lúc. Chính phủ vừa thúc đẩy đầu tư công, vừa hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, duy trì chính sách tài khóa và tiền tệ theo hướng hỗ trợ tăng trưởng nhưng vẫn phải bảo đảm ổn định các cân đối lớn. Những chính sách, quyết định và nghị quyết nêu trên chính là bằng chứng sinh động nhất chứng minh Chính phủ không dừng lại ở "quyết tâm chính trị", mà đã chủ động dùng công cụ thể chế và chính sách để tháo gỡ các nút thắt, khơi thông dòng vốn và nguồn lực toàn xã hội, và tạo đà vững chắc tiến tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Từ Trung ương, áp lực thực hiện cũng đang được chuyển xuống từng địa phương. Trong 9 tháng, 12/34 địa phương đạt mức tăng trưởng hai con số; một số địa phương có tốc độ tăng trưởng cao như Quảng Ninh, Bắc Ninh, Đà Nẵng. Hà Nội dù 9 tháng tăng 8,85%, nhưng riêng quý III đạt 10,02%, cho thấy khả năng tạo thêm động lực tăng trưởng trong những tháng cuối năm. Những kết quả khác nhau giữa các địa phương cũng đặt ra yêu cầu không thể áp dụng một công thức chung, mà phải xác định đúng lợi thế, điểm nghẽn và dư địa phát triển của từng địa bàn.
Chính ở cấp thực thi này, chất lượng quản trị sẽ quyết định phần lớn kết quả của giai đoạn nước rút. Ngày 8/7/2026, tại cuộc làm việc với Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu thành phố xây dựng lại kịch bản tăng trưởng theo từng ngành, lĩnh vực và dự án lớn, đồng thời nhấn mạnh mục tiêu tăng trưởng cao nhưng "không chạy theo tăng trưởng bằng mọi giá". Thông điệp này cho thấy tăng trưởng phải đi cùng chất lượng, hiệu quả và tính bền vững, thay vì chỉ chạy theo một con số cuối năm.
Mặc dù đạt được những kết quả rất tích cực, nhưng chúng ta cũng cần thẳng thắn nhìn nhận áp lực trong 3 tháng cuối năm vẫn rất lớn trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn còn nhiều biến động khó lường. Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ ngày 3/10/2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng xác định ba tháng cuối năm là giai đoạn "nước rút", với áp lực và thách thức rất lớn, đồng thời yêu cầu các bộ, ngành, địa phương xác định rõ quyết tâm, lộ trình và nhiệm vụ để thực hiện mục tiêu quý IV và cả năm.
Thủ tướng yêu cầu từ nay đến cuối năm, mỗi bộ, ngành, địa phương cần xác định cụ thể các nhiệm vụ quan trọng cần phải hoàn thành trong từng tháng; xác định rõ kết quả đầu ra, cơ quan, cá nhân, tập thể nào chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện.
Vì vậy, yêu cầu đối với quý IV không chỉ là "tăng tốc", mà là tăng tốc đúng chỗ. Nếu nhìn thuần túy về con số, khoảng cách từ mức tăng 9,01% sau 9 tháng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số của cả năm là không nhỏ. Nhưng điều đáng chú ý hơn là nền kinh tế đang có những động lực cụ thể để tiếp tục bứt lên: Sản xuất công nghiệp phục hồi mạnh; đầu tư xã hội tăng; FDI tăng; thương mại mở rộng; du lịch khởi sắc và đầu tư công đang được thúc đẩy. Vấn đề còn lại là khả năng giải phóng các nguồn lực đang bị ách tắc và biến những dư địa đó thành kết quả thực tế trong thời gian rất ngắn.
Mức tăng trưởng 9,01% trong 9 tháng qua không phải là điểm dừng, mà là bệ phóng. Nó là lời khẳng định rằng: Những quan điểm bài bác, hoài nghi về khả năng tăng trưởng hai con số của Việt Nam là hoàn toàn phi thực tế và thiếu cơ sở khoa học.
Mặc dù chặng đường quý IV còn nhiều áp lực, nhưng với những gì đã đạt được cùng xu hướng chuyển biến ngày càng tích cực, chúng ta có đầy đủ căn cứ, niềm tin và nguồn lực để tháo gỡ điểm nghẽn, đưa nền kinh tế cán đích mục tiêu tăng trưởng hai con số. Đó không chỉ là sự tăng trưởng của những con số, mà còn là minh chứng cho một Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ sang một mô hình tăng trưởng mới: Chất lượng hơn, hiệu quả hơn và bền vững hơn.