Trong giai đoạn phát triển mới, khi dư địa tăng trưởng dựa chủ yếu vào mở rộng vốn, lao động và khai thác tài nguyên dần thu hẹp, yêu cầu nâng cao năng suất, tăng trưởng bền vững ngày càng gắn chặt với năng lực làm chủ công nghệ, đổi mới phương thức quản trị, chất lượng thể chế và hiệu quả sử dụng các nguồn lực. Theo các chuyên gia, để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực tăng trưởng và tạo ra năng suất mới, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Từ thể chế quản lý sang thể chế kiến tạo
Đại biểu tham quan các gian hàng trưng bày tại Diễn đàn Năng suất chất lượng quốc gia năm 2026. Ảnh: Tiến Lực/TTXVN
Tại Diễn đàn Năng suất chất lượng quốc gia 2026 diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh mới đây, Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Minh Khương, Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Đại học Quốc gia Singapore, cho rằng một trong những bước chuyển quan trọng trong xu hướng chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là Chính phủ chuyển từ vai trò chủ yếu cấp ngân sách nghiên cứu và quản lý dự án sang trở thành nhà kiến tạo nền tảng cho đổi mới sáng tạo. Mô hình liên kết “ba nhà” truyền thống gồm nhà nước - viện, trường - doanh nghiệp cũng cần mở rộng thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mở, với sự tham gia của start-up, tài chính và vốn đầu tư mạo hiểm, nhân tài, người dùng và các đối tác quốc tế.
Từ kinh nghiệm quốc tế, Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Minh Khương cho rằng, doanh nghiệp phải là chủ thể chuyển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thành năng suất và giá trị. Chính phủ chuyển từ tài trợ sang kiến tạo thông qua xây dựng hạ tầng, nền tảng, tiêu chuẩn, thị trường và điều phối hệ sinh thái. Đổi mới sáng tạo và phổ cập công nghệ cũng phải song hành, đặc biệt là đưa AI, công nghệ số và công nghệ xanh tới doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như các ngành truyền thống.
Tiến sĩ Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, nhấn mạnh thể chế là hạ tầng của năng suất, là nền tảng để các nguồn lực được luân chuyển và đổi mới được khuyến khích. Theo ông, công nghệ tốt nhưng thủ tục chậm, rào cản thị trường cao thì không thể chuyển hóa thành năng suất; thể chế tốt giúp vốn, nhân lực và công nghệ dịch chuyển về nơi tạo ra giá trị cao hơn. Triết lý quản lý trong giai đoạn hiện nay cũng chuyển từ tiền kiểm và quản lý sang hậu kiểm và kiến tạo.
Phân tích về tác động của chính sách đối với năng suất, bà Võ Thị Lan Phương, Giám đốc điều hành Công ty Vriens & Partners Việt Nam, chuyên gia đánh giá tác động chính sách, đã chỉ ra sáu nhóm chính sách có nguy cơ làm giảm năng suất, gồm: tạo chi phí tuân thủ quá lớn; hạn chế cạnh tranh; cản trở đổi mới sáng tạo; làm gia tăng rủi ro; tạo “bẫy quy mô” và bảo hộ. Quá trình xây dựng chính sách cần định lượng chi phí tuân thủ, đánh giá tác động dài hạn tới đầu tư và xem xét ảnh hưởng đối với cạnh tranh, đổi mới sáng tạo. Việc đánh giá chính sách sau ban hành cũng cần được coi trọng để xác định quy định có thực sự hiệu quả và đạt mục tiêu hay không.
Bên cạnh rà soát, loại bỏ các yêu cầu trùng lặp, không còn cần thiết, bà Võ Thị Lan Phương cho rằng cần áp dụng nguyên tắc quản lý theo rủi ro, đơn giản hóa đối với doanh nghiệp rủi ro thấp, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm trong những lĩnh vực phù hợp. Khi thay đổi tiêu chuẩn, yêu cầu kỹ thuật cần có lộ trình và thời gian chuyển tiếp hợp lý. Cùng với đó, cần chuyển từ quản lý cái mới sang tạo không gian cho cái mới; quản lý theo kết quả thay vì quy định cách làm. Theo đó, Nhà nước đặt ra yêu cầu về an toàn, chất lượng, bảo vệ người tiêu dùng, môi trường..., còn doanh nghiệp được lựa chọn phương thức đáp ứng. Đồng thời, cần bảo đảm tính trung lập công nghệ, không thiết kế tiêu chuẩn hay điều kiện kinh doanh dựa trên một công nghệ, quy trình hoặc mô hình hiện hữu, mà cho phép doanh nghiệp sử dụng giải pháp khác nếu chứng minh đạt mức an toàn, chất lượng hoặc hiệu quả tương đương hoặc cao hơn.
Theo các chuyên gia, trên thực tế, từ tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, quá trình đổi mới tư duy quản lý đã từng bước được thể hiện trong hệ thống pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, qua đó tạo ra xung lực mới trong giai đoạn phát triển mới.
Chuyển hóa khoa học công nghệ thành năng suất
Hoàn thiện một thể chế kiến tạo là bước quan trọng, nhưng để thể chế phát huy hiệu quả, chính sách phải thực sự đến được với doanh nghiệp và chuyển thành kết quả cụ thể trong sản xuất, kinh doanh. Ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia, cho rằng hiệu quả chính sách không chỉ thể hiện ở số lượng nhiệm vụ, chương trình hay nguồn lực đã bố trí, mà phải được phản ánh bằng năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh thực tế. Khoa học và công nghệ chỉ tạo ra năng suất khi doanh nghiệp có khả năng tiếp cận, hấp thụ, làm chủ và đưa công nghệ vào sản xuất, quản trị. Vì thế, doanh nghiệp phải là trung tâm của quá trình thực thi chính sách và các chính sách cần đồng thời giải quyết các điểm nghẽn về thể chế, nguồn lực, nhân lực, dữ liệu và liên kết giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học.
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Minh Khương, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải lan tỏa tới mọi ngành, lĩnh vực, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa cần trở thành trọng tâm của phổ cập công nghệ. Công nghệ phải được chuyển hóa thành kết quả thực tế, không chỉ nâng năng suất lao động mà còn nâng hiệu quả sử dụng tài nguyên, năng lượng và vốn; đồng thời giúp doanh nghiệp và nền kinh tế tăng khả năng thích ứng trước biến động công nghệ, thị trường và chuỗi cung ứng.
Năng lực nghiên cứu cần được bổ trợ bởi năng lực kết nối và hấp thụ tri thức, công nghệ. Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Minh Khương cho rằng, thay vì chỉ đặt câu hỏi chi bao nhiêu cho R&D (nghiên cứu và phát triển), cần quan tâm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tạo ra bao nhiêu năng lực và giá trị. Bên cạnh các chỉ tiêu truyền thống, cần quan tâm tới tỷ lệ thương mại hóa công nghệ, mức độ hợp tác đại học - doanh nghiệp, năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp, mức độ phổ cập và lan tỏa công nghệ, tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng AI, cũng như hiệu quả vận hành và năng suất nguồn lực tăng lên nhờ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Ông cũng đề xuất chuyển từ xây dựng năng lực đổi mới sáng tạo nói chung sang khai thác đổi mới sáng tạo để giải quyết những vấn đề cụ thể. Ví dụ như nâng cao năng suất bằng AI, tự động hóa và sản xuất thông minh; nâng hiệu quả logistics bằng AI và tự động hóa, tối ưu mạng lưới; phát triển năng lượng bằng công nghệ lưu trữ và lưới điện thông minh; thúc đẩy net zero bằng công nghệ sạch và kinh tế tuần hoàn...
Từ góc nhìn thực tiễn doanh nghiệp, ông Trần Phúc Hồng, Giám đốc điều hành TMA Innovation, Phó Chủ tịch Liên minh Công nghệ số Việt Nam, cho rằng chính sách tác động trực tiếp tới hoạt động đầu tư của doanh nghiệp, qua đó tạo ra những kết quả như cải tiến quy trình, phát triển sản phẩm, đào tạo nhân lực, áp dụng công nghệ nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Ông đề cập ba nhóm chính sách chính cần chú trọng đó là thủ tục, tài chính và hạ tầng, nhân lực. Trong đó, bên cạnh giảm thủ tục, cần triển khai hiệu quả cơ chế sandbox (khung thể chế thí điểm) và các chính sách hỗ trợ về chi phí R&D, quỹ khoa học công nghệ và thuế. Để thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư, ông cũng đề xuất thành lập các trung tâm ứng dụng công nghệ theo từng lĩnh vực, phát triển sàn giao dịch công nghệ, trung tâm giao dịch tài sản trí tuệ và đặc biệt lưu ý vấn đề thực thi chính sách.
Từ phân tích của các chuyên gia cho thấy, khi thể chế được hoàn thiện theo hướng kiến tạo, chính sách có điều kiện đi vào thực tiễn hiệu quả hơn, doanh nghiệp thuận lợi hơn trong đầu tư và ứng dụng khoa học công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Đây là nền tảng để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo từng bước chuyển hóa thành năng suất, giá trị mới và động lực tăng trưởng cho nền kinh tế.