Tháng 7 nhớ về Thành cổ

Những ngày tháng 7 này, người dân cả nước cùng hướng về Quảng Trị với tấm lòng tri ân các Anh hùng, liệt sĩ. Và những người lính già đã từng chiến đấu tại Thành cổ Quảng Trị mùa hè 40 năm trước cũng không khỏi bùi ngùi xúc động khi nhớ về những kỉ niệm đã qua.

Những ngày tháng 7 này, người dân cả nước cùng hướng về Quảng Trị với tấm lòng tri ân các Anh hùng, liệt sĩ. Và những người lính già đã từng chiến đấu tại Thành cổ Quảng Trị mùa hè 40 năm trước cũng không khỏi bùi ngùi xúc động khi nhớ về những kỉ niệm đã qua.

Tháng 7 nhớ về Thành cổ ảnh 1

Đại tá Phạm Trương Uy và thượng tá Lê Văn Khánh là những người đồng đội thân thiết.

Ông Trần Gia Phi, 60 tuổi, là một cựu chiến binh, nhà ở gần đàn Xã Tắc (Hà Nội). Tròn 40 năm trước, người thanh niên ở độ tuổi mười chín đôi mươi này là chiến sĩ Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 24, Sư đoàn 304, đơn vị đầu tiên nổ súng mở màn trận đánh giải phóng tỉnh Quảng Trị. Đơn vị của ông Phi bắt đầu đánh từ đường 9, Ba Hồ, Động Toàn đến cứ điểm Phượng Hoàng rồi giải phóng toàn bộ căn cứ Ái Tử. Ngày 1/5/1972, tiểu đoàn 6 đã vượt sông Thạch Hãn, trở thành đơn vị đầu tiên giải phóng Thành cổ Quảng Trị.


Nhớ lại những ngày tháng chiến đấu quên mình để bảo vệ Thành cổ, ông Phi ngậm ngùi: “Thành cổ là “thủ phủ” của Quảng Trị, ai chiếm được Thành cổ coi như là người chiến thắng. Vì vậy, mặc dù về địa thế quân sự, Thành cổ là một mặt bằng khoảng 1 km2 rất bất lợi cho ta, nhưng bộ đội vẫn quyết tâm giữ bằng được. Có ngày bộ đội ta hi sinh lên đến vài trăm, còn bình quân 200 người/ngày”. Nói đến đây, ông Phi rơm rớm nước mắt.

Tháng 7 nhớ về Thành cổ ảnh 2

Thành cổ Quảng Trị ngày nay, nơi đã từng diễn ra những trận đánh ác liệt của quân đội ta mùa hè 1972.

Để giữ được 1 km2 Thành cổ này, quân giải phóng phải tổ chức phòng ngự nhiều lớp, cách Thành cổ 1 - 2 km có rất nhiều tầng lớp chốt chặn. “Nếu như không có các lớp phòng ngự từ ngoài này thì không thể giữ được Thành cổ 81 ngày đêm”, ông Phi cho biết.


Các chiến sĩ trong Thành cổ hi sinh chủ yếu bởi bom và pháo địch. Có những hầm bị sập vùi lấp hàng chục chiến sĩ. Nhiều chiến sĩ từ chốt phòng ngự bờ bắc sông Thạch Hãn khi bơi qua sông sang bờ Nam cũng bị bắn và hi sinh. Có thương binh, liệt sĩ trên đường đưa về qua sông cũng không còn. Trong 81 ngày đêm chiến đấu, từ 28/6 - 16/9/1972, Thành cổ Quảng Trị đã phải hứng chịu 328.000 tấn bom đạn. Trung bình mỗi chiến sĩ phải hứng chịu 100 quả bom, 200 quả đạn pháo.


Đại tá Phạm Trương Uy, lúc bấy giờ là đại úy, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 64, Trung đoàn 236, Sư đoàn 367, một trong những đơn vị tên lửa trong chiến dịch Quảng Trị 1972. Tiểu đoàn 64 là lực lượng tên lửa phòng không ở phía trước có nhiệm vụ bảo vệ cho bộ đội tấn công. Ở chiến dịch Quảng Trị, quân ta chỉ có lực lượng phòng không mà không có không quân. Phương tiện bắn cao nhất là tên lửa, sau đó đến cao xạ. Hơn nữa, chiến trường Quảng Trị rất trống trải, bắt đầu từ bờ Nam sông Bến Hải trở vào, địch chặt hết cây cối, chỉ còn lau lách.


“Mình muốn giữ gìn lực lượng phải ngụy trang, nghi binh, chứ nếu không sẽ bị tổn thất do máy bay địch phát hiện. Tên lửa rất cồng kềnh, phải che phủ. Vết xe đi đến đâu cỏ tranh rợp đến đó nên mình phải ngụy trang cả vết xe. Mặc dù lực lượng công binh đã đi dò mìn trước nhưng vẫn còn rất nhiều bom mìn của hàng rào Mc Namara sót lại nên không tránh khỏi xe bộ đội ta vấp phải mìn bị thương vong”, đại tá Uy nhớ lại.


Ông Lê Văn Khánh, một người bạn thân cùng đơn vị với ông Uy chia sẻ thêm: “Ngay ngày mở đầu chiến dịch 30/3, chúng tôi đã bắn hạ máy bay cường kích của địch, trực tiếp chi viện cho đội hình tiến công”. Theo hai ông, cái khó khăn nhất là địch gây nhiễu bằng tín hiệu điện tử nên quân ta không nhìn thấy máy bay địch để bắn. Song qua quá trình chiến đấu bảo vệ Hà Nội từ trước, đơn vị của các ông đã có kinh nghiệm đánh loại máy bay gây nhiễu tạp trong đội hình này. Ngoài ra, tâm trạng của đơn vị khi vào chiến đấu ở Quảng Trị rất hăm hở, muốn đem kinh nghiệm đã có để đánh máy bay địch tại Quảng Trị nên đến ngày 2/4/1972 đã bắt đúng tín hiệu máy bay gây nhiễu EB66 và bắn rơi tại chỗ.


“Lúc đó, phi công Mỹ là trung tá Hambleton nhảy dù xuống Cam Lộ, 11 ngày sau địch dùng người nhái và hàng chục máy bay mới cứu sống được tên này. Trong một lần có đội hoạt động hỗn hợp Việt Mỹ sang Việt Nam tìm đồng đội, họ cứ hỏi còn 5 người kia ở đâu nhưng tôi phán đoán là máy bay đã lao ra biển”, đại tá Uy kể lại.


Với ông Trần Gia Phi, sự hi sinh của đồng đội lúc nào cũng in sâu trong tâm trí. “Đại đội của tôi khi mở màn chiến dịch (30/3) có khoảng 80 người, đến tháng 9 thì hi sinh khoảng 30 người. Còn lại, hầu hết đều bị thương. Có đồng chí tân binh mới vào chưa kịp ra trận đã bị bom đánh hi sinh. Số quân chiến đấu có khi tụt xuống chỉ còn 1/3 – 1/4, không bao giờ được đầy đủ như biên chế ban đầu”, ông Phi xúc động kể lại.


Bản thân ông Phi cũng là thương binh hạng 2, bị thương ở sọ não. Suốt chiến dịch ông bị thương 3 lần nhưng vẫn tiếp tục chiến đấu. “Lệnh của Chính ủy và Tư lệnh mặt trận là chỉ trừ đồng chí nào không nhìn thấy, không cầm được súng (cụt tay), không đi được (cụt chân), còn lại đều tiếp tục chiến đấu”, ông Phi nói.


Còn với đại tá Phạm Trương Uy, câu nói đùa của đồng đội “Bị địch bắn chưa chắc đã trúng, trúng chưa chắc đã chết” khiến ông không thể nào quên. Ngày 6/4, sau khi bắn rơi 1 chiếc máy bay địch, dù biết địch đã đánh vào trận địa mình, ăngten thủng lỗ chỗ nhưng anh em vẫn quyết tâm bám trụ. Đến ngày hôm sau, địch ném bom nên nhiều anh em đã hi sinh.


Chiến tranh đã đi qua nhưng mỗi khi về thăm lại chiến trường xưa hay nhớ về đồng đội cũ, những người như ông Phi, ông Uy, ông Khánh vẫn không khỏi bồi hồi xúc động. Động lực đã cho họ sức mạnh phi thường để chiến đấu, không ngại hi sinh là tình yêu nước luôn cháy bỏng trong huyết quản họ. Đúng như lời ông Phi nói: “Không ai không sợ cái chết vì ai cũng chỉ được sinh ra một lần. Nhưng chết vinh quang vì được bảo vệ Tổ quốc thì không sợ. Nhất là khi khói súng bốc lên, đồng đội ngã xuống thì ý thức trả thù lên cao độ. Lòng yêu nước từ trong máu thịt cứ thế dâng trào”.


Hoàng Dương