Hiện thực hóa quyền của con nuôi
Các Đại biểu Quốc hội cơ bản thống nhất với sự cần thiết phải sửa đổi toàn diện Luật Nuôi con nuôi. Việc sửa đổi luật nhằm góp phần bảo đảm chặt chẽ về mặt pháp lý, tính khả thi trong tổ chức thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích tốt nhất của trẻ em.
Sau hơn một thập kỷ thi hành, Luật Nuôi con nuôi năm 2010 đã tạo hành lang pháp lý quan trọng, giúp hàng chục nghìn trẻ em tìm được mái ấm gia đình thay thế. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của kinh tế - xã hội, các cam kết quốc tế về quyền con người, cùng thực tiễn quản lý, đã bộc lộ không ít rào cản và kẽ hở pháp lý. Một số quy định hiện hành chưa tương thích đầy đủ với Luật Trẻ em năm 2016 và Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em (CRC).
Do đó, việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về nuôi con nuôi lần này được cử tri và các vị đại biểu Quốc hội kỳ vọng sẽ tạo nên bước chuyển căn bản, vừa bảo đảm tính nhân đạo sâu sắc, vừa siết chặt kỷ cương, ngăn ngừa triệt để mọi hành vi lợi dụng việc nhận nuôi con để trục lợi.
Một trong những nội dung trọng tâm, thu hút sự chú ý đặc biệt của các đại biểu là việc hiện thực hóa quyền của con nuôi được tìm hiểu về cội nguồn, gốc tích của mình.
Theo đại biểu Nguyễn Thị Sửu, ĐBQH TP Huế, Khoản 1 Điều 7 đã ghi nhận quyền được biết về nguồn gốc của con nuôi; tuy nhiên, khoản 2 mới quy định việc cung cấp thông tin phải phù hợp với pháp luật có liên quan, chưa xác định rõ trách nhiệm lưu giữ hồ sơ, trình tự tiếp cận thông tin và căn cứ hạn chế cung cấp thông tin. Nếu thiếu những quy định này, quyền đã được luật ghi nhận có thể khó thực hiện trên thực tế.
Nữ đại biểu TP Huế nêu dẫn chứng về tình huống một người con nuôi đã thành niên đề nghị cơ quan lưu giữ hồ sơ cung cấp thông tin về cha mẹ đẻ. Cơ quan tiếp nhận cho biết hồ sơ đã chuyển nơi khác; đơn vị đang giữ tài liệu lại lo ngại tiết lộ dữ liệu riêng tư, nên chỉ trả lời chung chung, không nêu căn cứ từ chối hoặc cách tiếp cận phần thông tin có thể cung cấp. Khi chưa xác định rõ nơi lưu giữ, thủ tục và căn cứ hạn chế, quyền được biết nguồn gốc rất khó thực hiện.
Đại biểu Nguyễn Thị Sửu đề nghị sửa khoản 2 Điều 7 theo hướng: Quy định rõ cơ quan, tổ chức lưu giữ hồ sơ có trách nhiệm lưu trữ đầy đủ, an toàn, bảo mật và cung cấp thông tin theo trình tự, thủ tục luật định; việc từ chối hoặc hạn chế cung cấp thông tin phải có căn cứ pháp luật và được giải thích cho người yêu cầu. Chính phủ quy định chi tiết thủ tục thực hiện, bảo đảm hài hòa quyền được biết nguồn gốc của con nuôi với quyền riêng tư của cha mẹ đẻ và người có liên quan.
Đồng quan điểm về việc hoàn thiện Điều 7 dưới góc độ quyền trẻ em, đại biểu Tráng A Dương đoàn ĐBQH tỉnh Lào Cai bày tỏ cơ bản nhất trí với quy định tại Điều 7 dự thảo Luật về quyền của con nuôi được biết nguồn gốc của mình. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền này được thể hiện đầy đủ nhất, đặc biệt là đối với trẻ em dân tộc thiểu số, đại biểu Tráng A Dương đề nghị quan tâm lưu giữ đầy đủ thông tin về cha mẹ đẻ, dân tộc, quê quán và các thông tin liên quan trong hồ sơ nuôi con nuôi, tạo điều kiện để con nuôi tìm hiểu về nguồn gốc khi có yêu cầu theo quy định của pháp luật.
Theo đó, cơ quan soạn thảo cần nghiên cứu bổ sung vào sau Khoản 2 Điều 7 nội dung: "Việc cung cấp thông tin nguồn gốc của con nuôi bao gồm thông tin về cha, mẹ đẻ, dân tộc, quê quán và các thông tin có liên quan được lưu trữ trong hồ sơ nuôi con nuôi phải đảm bảo phù hợp với các quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan".
Làm rõ điều kiện người nhận nuôi
Vấn đề tiêu chuẩn, tư cách pháp lý của người nhận con nuôi là bức tường thành đầu tiên bảo vệ sự an toàn thể chất lẫn tinh thần của đứa trẻ. Nhiều đại biểu chỉ rõ, dự thảo vẫn còn những điểm cần phải làm rõ.
Cụ thể, về điều kiện đối với người nhận con nuôi, tại Điều 14 ở Điểm đ khoản 3 sử dụng cụm từ “đã từng bị kết án” đối với một danh mục gồm nhiều nhóm tội danh, nhưng chưa làm rõ phạm vi áp dụng của việc cấm và mối quan hệ với tình trạng xóa án tích. Quy định này cần được cân nhắc để vừa phòng ngừa nguy cơ xâm hại trẻ em, vừa bảo đảm tính rõ ràng, tương xứng của điều kiện pháp lý.
Đại biểu Nguyễn Thị Sửu cho rằng, tình huống một người xin nhận con nuôi từng bị kết án về một tội thuộc danh mục tại điểm đ khoản 3 Điều 14, đã chấp hành xong hình phạt và được xóa án tích từ nhiều năm trước; nếu quy định chỉ dùng cụm từ “đã từng bị kết án”, mà không làm rõ hệ quả của việc xóa án tích và phạm vi áp dụng đối với từng nhóm tội, cơ quan giải quyết có thể hiểu theo những cách khác nhau, dẫn đến kết quả thiếu thống nhất.
Từ đó, đại biểu Sửu đề nghị chỉnh lý điểm đ khoản 3 Điều 14 theo hướng phân nhóm rõ các tội danh làm căn cứ cấm nhận con nuôi, xác định minh bạch hệ quả pháp lý của việc xóa án tích; đồng thời, giải trình rõ căn cứ áp dụng lệnh cấm kéo dài đối với từng nhóm tội danh. Mặt khác, dự thảo chưa quy định cụ thể cách xem xét vi phạm hành chính về bạo lực gia đình và xâm hại trẻ em khi đánh giá điều kiện của người nhận con nuôi.
Cùng với đó, một số đại biểu đề nghị Cơ quan soạn thảo quan tâm bổ sung các cơ chế kiểm soát rủi ro và giải pháp bảo vệ trẻ em trong suốt quá trình trước, trong và sau khi được nhận làm con nuôi. Đây là nhóm đối tượng chịu nhiều thiệt thòi nhất (trẻ mồ côi, trẻ không nơi nương tựa, trẻ khuyết tật), do đó cần có chính sách bảo vệ đặc biệt và toàn diện.