Phú Thọ đặt trọng tâm ba hướng tăng tốc đầu tư

Trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế 9 tháng năm 2026 đạt 10,01%, tỉnh Phú Thọ đang tập trung tạo chuyển biến mạnh hơn trong giải ngân đầu tư công, thu hút đầu tư và tháo gỡ các dự án còn vướng mắc. Trọng tâm là chuyển từ tháo gỡ từng thủ tục sang quản lý tiến độ theo từng dự án, xác định rõ trách nhiệm, thời hạn xử lý và hiệu quả đầu tư.

Tỉnh Phú Thọ đặt mục tiêu giải ngân 100% kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026. Ảnh minh họa: TTXVN
Tỉnh Phú Thọ đặt mục tiêu giải ngân 100% kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026. Ảnh minh họa: TTXVN

Theo Thống kê tỉnh Phú Thọ, 9 tháng năm 2026, tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn ước đạt 118,4 nghìn tỷ đồng, tăng 15,8% so với cùng kỳ năm 2025; trong đó, vốn ngoài nhà nước đạt 62,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 52,8% tổng vốn; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 28,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 24,1%, tăng 21,3%; vốn nhà nước đạt 27,4 nghìn tỷ đồng, tăng 12%. Riêng quý III, tổng vốn đầu tư thực hiện gần 50 nghìn tỷ đồng, tăng 30,1% so với quý II và tăng 20,8% so với cùng kỳ.

Đáng chú ý, nhiều dự án quy mô lớn đang được triển khai và đóng góp trực tiếp vào tăng năng lực sản xuất của tỉnh như dự án nhà máy của Công ty TNHH Điện tử MEIKO Hòa Bình với giá trị thực hiện ước 2.539,6 tỷ đồng; dự án nhà máy của Công ty TNHH Điện tử BYD Việt Nam 877,7 tỷ đồng; dự án Palm Manor Việt Trì 725,9 tỷ đồng; dự án sản xuất rèm vải thông minh của Công ty TNHH NORMAN Việt Nam 710 tỷ đồng và dự án căn hộ nghỉ dưỡng khoáng nóng tại Thanh Thủy 660 tỷ đồng.

Trong thu hút đầu tư, đến ngày 15/9/2026, Phú Thọ đã cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 137 dự án DDI, với tổng vốn đăng ký, điều chỉnh 73.634 tỷ đồng. Đối với khu vực FDI, tỉnh cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 97 dự án, tổng vốn đăng ký 2.025 triệu USD, tăng 76,6% về vốn so với cùng kỳ; trong đó có 26 dự án cấp mới và 71 dự án điều chỉnh vốn...

Từ kết quả này, tỉnh xác định thu hút đầu tư thời gian tới cần chuyển mạnh sang xúc tiến có trọng tâm, trọng điểm, hướng vào các đối tác và lĩnh vực có khả năng tạo giá trị gia tăng; đồng thời, chú trọng xúc tiến đầu tư tại chỗ. Việc hỗ trợ các doanh nghiệp đang hoạt động mở rộng quy mô được coi là một kênh quan trọng để tạo hiệu ứng lan tỏa và thu hút thêm nhà đầu tư mới.

Cùng với đó, tỉnh tiếp tục duy trì các hoạt động đối thoại với doanh nghiệp; trong đó, có mô hình “Cà phê doanh nhân”, thường xuyên nắm bắt tình hình sản xuất, kinh doanh để kịp thời xử lý các khó khăn, vướng mắc. Cơ chế “Luồng xanh 24 giờ” và “Luồng xanh 50%” trong giải quyết thủ tục hành chính tiếp tục được triển khai, hướng tới rút ngắn thời gian xử lý và tạo thuận lợi cho nhà đầu tư.

Đối với đầu tư công, yêu cầu đặt ra là không chỉ bảo đảm giải ngân vốn mà phải gắn giải ngân với tiến độ hoàn thành công trình và khả năng phát huy hiệu quả sau đầu tư. Theo báo cáo, vốn đầu tư thuộc nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong 9 tháng đạt khoảng 17,8 nghìn tỷ đồng, bằng 64,2% kế hoạch năm.

Ông Ngô Chí Tuệ, Chánh Văn phòng UBND tỉnh Phú Thọ cho biết, tỉnh đang tập trung xử lý các điểm nghẽn trực tiếp ảnh hưởng tiến độ như: bồi thường giải phóng mặt bằng, nguồn cung nguyên vật liệu, bãi đổ thải và giá vật liệu xây dựng; đồng thời, rà soát khả năng hấp thụ vốn của từng dự án để điều chỉnh linh hoạt nguồn vốn, chuyển vốn từ những dự án khó có khả năng giải ngân sang các dự án có nhu cầu và khả năng thực hiện tốt hơn.

Theo lãnh đạo Sở Tài chính Phú Thọ, mục tiêu của tỉnh đặt ra là giải ngân 100% kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026, ưu tiên nguồn lực cho các dự án trọng điểm, dự án kết nối liên vùng, công trình an sinh xã hội có khả năng hoàn thành sớm và phát huy hiệu quả đầu tư.

Một giải pháp quan trọng khác là cá thể hóa trách nhiệm đối với từng dự án. Với các dự án chậm tiến độ, tỉnh yêu cầu xác định rõ nguyên nhân, cơ quan hoặc đơn vị đầu mối chịu trách nhiệm, thời hạn xử lý từng nhóm việc và kết quả phải đạt được. Cách làm này nhằm hạn chế tình trạng vướng mắc kéo dài qua nhiều khâu, nhiều cấp mà không xác định được điểm nghẽn cụ thể.

Đối với các dự án tồn đọng, kéo dài, tỉnh tiếp tục rà soát, phân loại để có phương án xử lý phù hợp; kiên quyết chấm dứt những dự án không còn khả năng triển khai, kéo dài gây lãng phí nguồn lực. Theo kế hoạch, tỉnh phấn đấu tháo gỡ khó khăn cho 99 dự án còn vướng mắc trong tổng số 149 dự án đã tổng hợp trên hệ thống 751 trước ngày 31/12/2026.

Cùng với tháo gỡ thủ tục, tỉnh cần gắn tiến độ dự án với năng lực thực tế của chủ đầu tư, khả năng huy động vốn, giải phóng mặt bằng, xây dựng hạ tầng và thời điểm đưa dự án vào vận hành. Đây cũng là yếu tố quan trọng để các dự án đầu tư thực sự chuyển hóa thành năng lực sản xuất và giá trị tăng thêm cho nền kinh tế, thay vì chỉ dừng ở vốn đăng ký.

Trong bối cảnh công nghiệp và xây dựng đang là động lực chủ yếu của tăng trưởng, việc đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư, nhất là dự án công nghiệp, hạ tầng và các công trình có tính kết nối, sẽ góp phần mở rộng năng lực sản xuất, tạo việc làm và thúc đẩy các ngành dịch vụ liên quan. 9 tháng năm 2026, GRDP của Phú Thọ tăng 10,01%; trong đó, công nghiệp và xây dựng tăng 13,48%.

Từ nay đến cuối năm, Phú Thọ tiếp tục đặt trọng tâm vào ba hướng gồm thu hút và hỗ trợ các dự án đầu tư mới, đẩy nhanh giải ngân và tiến độ các dự án đầu tư công, đồng thời xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, kéo dài. Cùng với đó là tăng cường kiểm tra, đôn đốc theo tiến độ cụ thể, điều chuyển nguồn lực kịp thời và nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu.

Cách làm này hướng tới mục tiêu biến nguồn vốn đầu tư thành công trình, dự án hoàn thành đúng tiến độ, nhanh chóng đưa vào khai thác; qua đó, tạo thêm năng lực sản xuất, mở rộng không gian phát triển và đóng góp trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế của tỉnh năm 2026.

Nguyễn Văn Cảnh/TTXVN

Dành cho bạn

G20 chưa đạt đồng thuận về dư thừa công suất

G20 chưa đạt đồng thuận về dư thừa công suất

Các Bộ trưởng thương mại Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20) đã không đạt được đồng thuận về biện pháp ứng phó với tình trạng dư thừa công suất công nghiệp, trong bối cảnh Mỹ thúc đẩy các biện pháp nhằm ngăn chặn việc hàng hóa được sản xuất vượt nhu cầu tràn vào thị trường với giá thấp, gây sức ép đối với các nhà sản xuất trong nước.