Nâng tầm OCOP Phú Thọ từ chất lượng đến chuỗi giá trị

Sau hơn bảy năm triển khai, Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) đã tạo chuyển động rõ nét trong kinh tế nông thôn Phú Thọ.

Từ những đặc sản quen thuộc của làng quê, nhiều sản phẩm đã được chuẩn hóa quy trình, có bao bì, nhãn hiệu, mã truy xuất nguồn gốc và từng bước bước ra thị trường rộng hơn. OCOP vì thế không chỉ là câu chuyện xếp hạng sao, mà còn là quá trình đánh thức lợi thế địa phương, tổ chức lại sản xuất và tạo thêm sinh kế cho người dân.

Giai đoạn 2021-2025, Phú Thọ có 696 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên, trong đó có hơn 100 sản phẩm 4 sao và 9 sản phẩm 5 sao. Con số ấy cho thấy sức lan tỏa của chương trình, đồng thời phản ánh sự thay đổi trong tư duy của doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất. Tuy nhiên, bước sang giai đoạn mới, thước đo quan trọng nhất không còn là số lượng sản phẩm được công nhận, mà là khả năng duy trì chất lượng, xây dựng niềm tin và hình thành chuỗi giá trị bền vững.

Giữ sao bằng chất lượng, giữ khách bằng niềm tin

Từ bưởi Đoan Hùng, thịt chua Thanh Sơn, mì gạo Hùng Lô đến chè, mật ong, đông trùng hạ thảo, măng chua, măng nứa khô, bản đồ đặc sản vùng Đất Tổ ngày càng rõ nét hơn nhờ OCOP. Nhiều sản phẩm trước đây chủ yếu tiêu thụ trong phạm vi xã, tỉnh, nay đã có nhận diện thương hiệu, tem nhãn và thông tin truy xuất. Đó là bước tiến quan trọng, bởi trong nền kinh tế thị trường, một đặc sản muốn đi xa không thể chỉ dựa vào tiếng thơm truyền miệng.

ocoppt.jpg
Minh bạch thông tin sản phẩm – yếu tố quan trọng giúp các sản phẩm OCOP nâng cao giá trị và tạo dựng niềm tin trên thị trường.

Giá trị lớn của OCOP nằm ở phần phía sau bao bì. Đó là vùng nguyên liệu được quản lý tốt hơn, quy trình sản xuất được chuẩn hóa hơn, nhà xưởng sạch hơn, hồ sơ công bố chất lượng đầy đủ hơn và trách nhiệm của chủ thể rõ hơn. Khi sản phẩm có mã QR, có nhãn hiệu, có thông tin về nơi sản xuất, người tiêu dùng không chỉ mua một món hàng, mà mua cả sự minh bạch và cam kết của người làm ra sản phẩm.

Dù vậy, áp lực duy trì chất lượng đang ngày càng lớn. Theo thống kê của ngành nông nghiệp, đến hết tháng 9/2026, toàn tỉnh còn 571 sản phẩm OCOP có giấy chứng nhận còn hiệu lực; 137 sản phẩm hết thời hạn công nhận và 155 sản phẩm sẽ hết hạn từ tháng 10-12/2026. Theo đánh giá chuyên môn của các cấp, các ngành, nguyên nhân của những sản phẩm hết hạn là do thực hiện theo bộ tiêu chí mới giai đoạn 2026-2030 có nhiều sự thay đổi so với giai đoạn, các tiêu chí, chỉ tiêu yêu cầu chặt chẽ, ngày càng cao gây khó khăn hơn trong việc thực hiện.

Do đó việc đánh giá, phân hạng lại sản phẩm OCOP gặp nhiều khó khăn, đặc biệt việc xây dựng hồ sơ đối với chủ thể là hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ, cơ sở sản kinh doanh còn hạn chế về năng lực

Trong Kế hoạch phát triển sản phẩm OCOP tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2026-2030, tỉnh xác định tăng cường hậu kiểm, kết hợp kiểm tra định kỳ với kiểm tra đột xuất khi cần thiết. Nội dung kiểm tra không chỉ dừng ở thành phẩm, mà phải bao quát điều kiện sản xuất, nguyên liệu, quy trình chế biến, ghi nhãn, truy xuất nguồn gốc, bảo vệ môi trường và việc sử dụng biểu trưng OCOP. Đây là cách giữ uy tín chung cho chương trình, đồng thời sàng lọc những sản phẩm không còn đáp ứng yêu cầu.

Với nhóm thực phẩm, đồ uống, dược liệu và sản phẩm chế biến, an toàn thực phẩm chính là giấy thông hành để vào thị trường lớn. Một sản phẩm ngon nhưng nguyên liệu thiếu ổn định, quy trình thiếu kiểm soát hoặc không truy xuất được nguồn gốc sẽ khó giữ chân khách hàng. Bởi vậy, định hướng áp dụng VietGAP, GlobalGAP, sản xuất hữu cơ, HACCP, GMP, ISO hoặc tiêu chuẩn phù hợp với từng nhóm sản phẩm là yêu cầu cần thiết, không phải phần trang trí cho hồ sơ.

Truy xuất nguồn gốc là một trong những khâu đặc biệt quan trọng trong quá trình đánh giá và nâng cao chất lượng sản phẩm. Nếu được triển khai thực chất, mã QR không đơn thuần là một ô vuông được in trên bao bì, mà trở thành “cửa sổ thông tin” giúp người tiêu dùng dễ dàng kiểm tra, tìm hiểu về vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất, chế biến, đóng gói cũng như đơn vị chịu trách nhiệm về sản phẩm.

Khi tính minh bạch được coi là một phần trong quá trình xây dựng và phát triển thương hiệu, truy xuất nguồn gốc sẽ góp phần nâng cao giá trị sản phẩm, tạo dựng niềm tin với người tiêu dùng và củng cố uy tín của sản phẩm trên thị trường một cách bền vững.

Từ đặc sản địa phương đến chuỗi giá trị thị trường

Nếu chất lượng là nền móng giữ niềm tin, thì chuỗi giá trị là con đường đưa OCOP đi xa. Thực tế cho thấy, một sản phẩm được công nhận OCOP chưa đồng nghĩa với việc có thị trường ổn định. Không ít sản phẩm vẫn bán chủ yếu trong phạm vi địa phương, sản lượng nhỏ, phụ thuộc mùa vụ và còn lúng túng khi tiếp cận siêu thị, trung tâm thương mại hay nền tảng thương mại điện tử. Vì vậy, phát triển OCOP giai đoạn tới phải lấy thị trường làm điểm xuất phát, từ đó tổ chức vùng nguyên liệu, chế biến, bao bì, logistics và kênh phân phối.

Mục tiêu đến năm 2030, khoảng 70% chủ thể OCOP của tỉnh xây dựng được vùng nguyên liệu ổn định; 40% sản phẩm có sản lượng hàng hóa ổn định và được kết nối với siêu thị, trung tâm thương mại. Đây là chỉ tiêu có ý nghĩa quyết định. Vùng nguyên liệu ổn định giúp kiểm soát chất lượng, giảm rủi ro đứt gãy nguồn cung và tạo điều kiện đáp ứng đơn hàng lớn.

Mô hình Ruốc cá Sông Đà của Công ty TNHH Hải Đăng Group được phát triển từ nguồn cá nuôi vùng lòng hồ thủy điện Sông Đà, tổ chức liên kết theo chuỗi, áp dụng VietGAP và đầu tư dây chuyền chế biến khép kín. Các sản phẩm ruốc cá lăng đen, cá lăng vàng, cá trắm đen đạt OCOP 4 sao, từng bước tiếp cận cửa hàng thực phẩm sạch và sàn thương mại điện tử.

Tại xã Võ Miếu, Mì gạo Phê Thư cũng là ví dụ về sự thay đổi tư duy. Hoàn thiện quy trình, cải tiến bao bì, ứng dụng truy xuất nguồn gốc và xây dựng hình ảnh sản phẩm đã giúp chủ thể chuyển từ sản xuất để bán sang sản xuất để giữ thị trường. Trong trồng trọt, Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp - Kinh doanh hàng nông sản An Hòa xây dựng vùng dưa chuột VietGAP, tạo nguồn cung tương đối ổn định, mỗi ngày cung cấp hàng chục tấn sản phẩm cho siêu thị, doanh nghiệp chế biến và nhiều địa phương.

Từ những mô hình ấy, bài học đặt ra là phải chuyển mạnh từ hỗ trợ từng sản phẩm sang hỗ trợ theo chuỗi. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, kết nối đất đai, khoa học công nghệ, vốn và thị trường; doanh nghiệp làm đầu tàu bao tiêu, chế biến, xây dựng thương hiệu; hợp tác xã và người dân tổ chức sản xuất theo quy trình thống nhất. Khi các mắt xích này vận hành cùng nhau, OCOP mới trở thành động lực phát triển kinh tế nông thôn, chứ không chỉ là một danh hiệu trên bao bì.

ocoppt1.jpg
Từ vùng nguyên liệu đến sản phẩm hoàn chỉnh, truy xuất nguồn gốc giúp người tiêu dùng có thêm cơ sở để nhận diện và lựa chọn sản phẩm OCOP.

Cùng với chuỗi sản xuất, xúc tiến thương mại cần được coi là một khâu của quá trình làm sản phẩm. Sản phẩm có tiềm năng phải được lựa chọn để tham gia hội chợ, kết nối cung cầu, vào cửa hàng đặc sản, siêu thị và nền tảng số. Đào tạo về marketing, thương mại điện tử, thiết kế bao bì, quản trị chất lượng và phương án kinh doanh cũng cần đi vào thực chất. Máy móc hiện đại chỉ phát huy hiệu quả khi người vận hành hiểu thị trường và biết kể câu chuyện sản phẩm.

Một dư địa lớn khác của OCOP Phú Thọ là gắn với du lịch và văn hóa vùng Đất Tổ. Với Khu Di tích lịch sử Đền Hùng, Vườn quốc gia Xuân Sơn, đồi chè Long Cốc, các làng nghề và điểm du lịch cộng đồng, Phú Thọ có điều kiện để biến sản phẩm OCOP thành quà tặng, trải nghiệm và ký ức của du khách. Du khách không chỉ mua một gói chè hay hộp thịt chua, mà còn được biết về vùng đất, con người và cách sản phẩm được làm ra.

Giai đoạn 2026-2030, Phú Thọ phấn đấu mỗi năm tiêu chuẩn hóa, phát triển mới và nâng hạng 50-55 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên; phát triển thêm trên 100 chủ thể, trong đó ít nhất 50% là hợp tác xã, tổ hợp tác; có trên 45% số làng nghề nông thôn có sản phẩm tham gia. Tổng nhu cầu kinh phí dự kiến hơn 76,22 tỷ đồng, tập trung cho vùng nguyên liệu, máy móc, sở hữu trí tuệ, truy xuất nguồn gốc, xúc tiến thương mại, chuyển đổi số và nâng cao năng lực chủ thể.

Nhưng nguồn lực nhà nước chỉ là lực đẩy. Sự bền vững phải đến từ nội lực của doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân. Mỗi chủ thể cần chuyển từ tư duy làm sản phẩm để đạt sao sang làm sản phẩm để phục vụ thị trường; từ bán hàng ngắn hạn sang xây dựng thương hiệu dài hạn. Khi đó, mỗi sản phẩm OCOP không chỉ đại diện cho một cơ sở sản xuất, mà còn đại diện cho chất lượng, bản sắc và năng lực phát triển bền vững của vùng Đất Tổ.

PV

Dành cho bạn

Lạng Sơn quản lý hiệu quả cửa khẩu

Lạng Sơn quản lý hiệu quả cửa khẩu

Hơn 10 năm triển khai Nghị định số 112/2014/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý cửa khẩu biên giới đất liền, công tác quản lý, điều hành hoạt động cửa khẩu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã đi vào nền nếp,  đặt nền tảng cho quá trình chuyển đổi số và xây dựng cửa khẩu thông minh.