Tăng trưởng đi đôi với kiểm soát lạm phát
Một trong những vấn đề được đại biểu Quốc hội quan tâm trong phiên thảo luận về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội là duy trì tốc độ tăng trưởng 9 tháng đạt 9,01%, trong khi lạm phát ở mức 4,52%. Theo Bộ trưởng, đây là kết quả đáng ghi nhận trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, áp lực giá cả và nguồn cung gia tăng.
Dẫn dự báo của Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ quốc tế, Bộ trưởng cho biết tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm nay dự kiến ở mức 3,1%, cao hơn mức dự báo đầu năm khoảng 2,8 - 3%; lạm phát toàn cầu dự kiến khoảng 4,7%. Đáng chú ý, giá dầu và những tác động từ xung đột địa chính trị đang tạo sức ép lớn đối với điều hành kinh tế.
Bộ trưởng nêu ví dụ, giá dầu Brent bình quân năm 2026 được tính toán ở mức khoảng 79 USD/thùng, nhưng tại thời điểm này đã dao động quanh 118 - 120 USD/thùng, tăng trên 50%. Xung đột địa chính trị tác động đến giá dầu, gây đứt gãy nguồn cung và ảnh hưởng đến cả các cơ sở lọc hóa dầu, tạo ra những tác động đáng kể đối với nền kinh tế.
Trong bối cảnh đó, việc giữ lạm phát ở mức 4,52% được Bộ trưởng đánh giá là cố gắng rất lớn. Ông cho biết, bên cạnh chính sách tiền tệ được điều hành linh hoạt, chặt chẽ nhằm ổn định tỷ giá, lãi suất, các chính sách tài khóa cũng được triển khai với quy mô lớn để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp.
Cụ thể, trong năm 2026, tổng số tiền miễn, giảm thuế khoảng 240.000 tỷ đồng; số thuế được gia hạn khoảng 120.000 tỷ đồng. Tổng quy mô các chính sách miễn, giảm và gia hạn thuế vào khoảng 360.000 tỷ đồng.
Bộ trưởng cho biết thêm, Bộ Tài chính đã báo cáo Chính phủ về phương án tiếp tục lùi thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng, qua đó đưa toàn bộ các loại thuế đối với xăng dầu về 0%.
Nhấn mạnh mục tiêu điều hành, Bộ trưởng dẫn chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và các đồng chí lãnh đạo chủ chốt: “Tăng trưởng nhưng người dân phải thụ hưởng thành quả”. Theo đó, yêu cầu đặt ra là vừa duy trì tăng trưởng, hướng tới mục tiêu trên 10%, vừa kiểm soát lạm phát ở mức khoảng 4,5%.
Đa dạng hóa nguồn vốn cho mục tiêu tăng trưởng trên 10%
Một nội dung khác được đại biểu Quốc hội quan tâm là khả năng huy động nguồn lực để thực hiện mục tiêu tăng trưởng trên 10% trong giai đoạn 2026-2030, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế còn phụ thuộc lớn vào nguồn vốn tín dụng.
Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, để đạt mục tiêu tăng trưởng trên 10%, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần đạt khoảng 40% GDP; đồng thời, hệ số sử dụng vốn đầu tư (ICOR) phải được đưa về mức 4,5 - 4,8. Nhu cầu huy động vốn trong giai đoạn 2026-2030 tăng 2,21 lần so với giai đoạn 2021-2025.
Trước băn khoăn của đại biểu về việc phụ thuộc quá lớn vào thị trường tín dụng, Bộ trưởng cho biết Chính phủ đã nhận diện từ xa, từ sớm và thông qua Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đã từng bước triển khai các giải pháp nhằm mở rộng khả năng huy động vốn, đạt kết quả bước đầu.
Theo số liệu Bộ trưởng cung cấp, trong 9 tháng năm 2026, huy động vốn trên thị trường tăng 15% so với cùng kỳ. Đặc biệt, phát hành cổ phiếu ra công chúng tăng 60% so với cùng kỳ, phát hành cổ phiếu riêng lẻ tăng 80% so với cùng kỳ. Từ cuối năm 2025 đến nay, có 10 doanh nghiệp thực hiện phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO), huy động được trên 60.000 tỷ đồng, gấp 9 lần tổng số vốn huy động trong cả giai đoạn 2021-2025.
Thị trường cổ phiếu có nhiều khởi sắc, hoạt động phát hành cổ phiếu ra công chúng tăng 26,3%; phát hành cổ phiếu riêng lẻ tăng 1,62%.
Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đặt mục tiêu đến năm 2030, tổng vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 120% GDP. Hiện nay, quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu khoảng 90% GDP; thị trường trái phiếu khoảng 50% GDP và thị trường sản phẩm phái sinh khoảng 20-30% GDP.
Để thực hiện các mục tiêu này, Bộ trưởng cho biết cần tiếp tục củng cố khuôn khổ pháp lý, bảo đảm công khai, minh bạch để tăng sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư; đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, tránh tình trạng cô đặc; thu hút thêm nhà đầu tư nước ngoài và phát triển các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp trên thị trường.
Chấn chỉnh lập dự toán, xử lý tình trạng chuyển nguồn lớn
Liên quan đến quản lý ngân sách nhà nước, các đại biểu Quốc hội quan tâm đến chất lượng lập dự toán, tình trạng chuyển nguồn và tạm ứng vốn. Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn thừa nhận việc xây dựng dự toán chưa sát với kết quả thực hiện là vấn đề đã được đặt ra, Bộ Tài chính đang cố gắng khắc phục. Thực tế năm 2025, số thu ngân sách thực hiện tăng 36% so với dự toán và tăng 34% so với thực hiện năm 2024. Theo Bộ trưởng, một trong những nguyên nhân là công tác phân tích, dự báo còn hạn chế, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng dự báo, xây dựng dự toán sát hơn với tình hình thực tế.
Tuy nhiên, mức tăng thu ngân sách năm 2025 cũng xuất phát từ những yếu tố khó dự báo ngay từ đầu năm. Cụ thể, các báo cáo đầu năm dự kiến tăng trưởng kinh tế ở mức 5,5-6,5%, nhưng kết thúc năm, tăng trưởng đạt 8,02%. Tăng trưởng cao hơn dự báo đã tác động trực tiếp đến kết quả thu ngân sách.
Bên cạnh đó, nguồn thu từ đất tăng mạnh sau khi Quốc hội thông qua Luật Đất đai năm 2024. Năm 2025, thu từ đất đạt trên 700.000 tỷ đồng. Ngoài ra, một số khoản thu bất thường như chênh lệch thu, chi của ngân hàng, bán vốn nhà nước và thu cổ tức cũng góp phần làm tăng thu ngân sách.
Về tình trạng chuyển nguồn lớn, Bộ trưởng cho biết theo quyết toán đã trình, năm 2025 số vốn chuyển nguồn lên tới 1,8 triệu tỷ đồng, tương đương hơn 40% dự toán. Nguyên nhân trước hết là thu ngân sách tăng mạnh, đặc biệt vào cuối năm, dẫn đến một phần nguồn thu phải chuyển sang năm sau. Mặt khác, trong năm có nhiều dự án hạ tầng quan trọng được khởi công, triển khai với thời gian thực hiện dài, nên cần chuyển vốn để đầu tư.
Bộ trưởng thông tin, ngày 8/10, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 312/NQ-CP, yêu cầu tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, trong đó nhấn mạnh việc đẩy mạnh thanh toán tạm ứng. Mục tiêu là bảo đảm nguồn vốn tạm ứng được thanh toán, quyết toán sớm, đồng thời thúc đẩy các công trình đầu tư triển khai và sớm đưa vào sử dụng.
Theo Bộ trưởng, yêu cầu giảm ICOR không thể chỉ nhìn vào số vốn giải ngân mà phải gắn với tiến độ hoàn thành, đưa công trình vào khai thác. “Muốn giảm chỉ số ICOR xuống thì bắt buộc các công trình đầu tư phải sớm đưa vào sử dụng”, ông nhấn mạnh.
Để đạt được yêu cầu này, cần quan tâm đồng bộ từ khâu chuẩn bị dự án, tổ chức triển khai, thanh quyết toán đến vận hành công trình. Bộ trưởng dẫn ví dụ, một công trình nhóm B hiện nay có thời gian chuẩn bị ít nhất 18 tháng đến 2 năm. Đây là một trong những nguyên nhân khiến tiến độ thực hiện dự án và giải ngân vốn đầu tư công kéo dài.
Bộ trưởng thẳng thắn chỉ ra: “Tại sao giải ngân chậm và chuyển nguồn lớn? Thực chất là do công tác chuẩn bị dự án chúng ta vẫn còn bất cập”.
Theo phân tích của Bộ trưởng, so sánh số lượng nội dung phải điều chỉnh dự toán, thiết kế giữa dự án sử dụng vốn đầu tư công trong nước và dự án ODA là tương đương, tuy nhiên, quy trình thực hiện đối với dự án ODA phức tạp hơn, thời gian kéo dài hơn do liên quan đến nguồn vốn nước ngoài, phải có sự thỏa thuận của đối tác và có thể phải ký lại hiệp định khi điều chỉnh dự án. Vì vậy, để đẩy nhanh tiến độ, giảm chuyển nguồn và tạm ứng, khâu chuẩn bị dự án và tổ chức thực thi có ý nghĩa quan trọng.
Tăng gấp đôi nguồn hỗ trợ Đồng bằng sông Cửu Long ứng phó biến đổi khí hậu
Về bố trí vốn cho các công trình phòng, chống lũ lụt, ngập mặn, xâm nhập mặn và ứng phó nước biển dâng tại Đồng bằng sông Cửu Long, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, theo dự toán kế hoạch đầu tư công giai đoạn 2026-2030, ngân sách Trung ương dự kiến bố trí 214.000 tỷ đồng vốn hỗ trợ có mục tiêu cho ngân sách các vùng. Cùng với đó, dự kiến có khoảng 56.600 tỷ đồng vốn ODA.
Theo Bộ trưởng, mức hỗ trợ tập trung cho Đồng bằng sông Cửu Long để thích ứng với biến đổi khí hậu chiếm khoảng 18% tổng mức hỗ trợ có mục tiêu của ngân sách Trung ương trong nhiệm kỳ 2026-2030. Đáng chú ý, mức bố trí này tăng gấp đôi so với giai đoạn 2021-2025. “Giai đoạn 2021-2025 chúng ta bố trí 108.000 tỷ đồng và giai đoạn này chúng ta bố trí 214.000 tỷ đồng”, Bộ trưởng thông tin.
Ngoài nguồn vốn dự kiến bố trí, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục đàm phán với các tổ chức quốc tế để huy động thêm nguồn lực, nhằm đẩy nhanh tiến độ triển khai các công trình.