Sự bứt phá này được ghi nhận rõ nét nhất tại các cực tăng trưởng và các địa phương trọng điểm trên cả nước, nơi các chỉ số kinh tế 8 tháng qua cho thấy những tín hiệu khả quan.
Xe hàng thông quan qua cửa khẩu đường bộ Quốc tế số II - Kim Thành, Lào Cai. Ảnh: Hồng Ninh/TTXVN
Theo thông tin từ Hải quan cửa khẩu quốc tế Lào Cai, thuộc Chi cục Hải quan khu vực VII, đến ngày 26/8, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa qua cửa khẩu Lào Cai đạt gần 1,6 tỷ USD, tăng 75% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu đạt gần 887 triệu USD, tăng 162%; nhập khẩu đạt gần 685 triệu USD, tăng 22%. Số thu ngân sách nhà nước đến hết ngày 26/8 đạt gần 845 tỷ đồng, bằng 80,1% chỉ tiêu Bộ Tài chính giao và 67,6% chỉ tiêu UBND tỉnh Lào Cai giao, tăng 18% so với cùng kỳ năm 2025.
Tại Hải Phòng, qua đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2026, có 9/10 chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu dự kiến vượt kịch bản. Chỉ tiêu chưa đạt kịch bản là tốc độ tăng chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP), khi tháng 8 ước tăng hơn 14%, thấp hơn mức kịch bản hơn 17%.
Tại Thủ đô Hà Nội, theo Thống kê địa phương, tính chung 8 tháng năm 2026, xuất khẩu của Hà Nội đạt 14,89 tỷ USD, tăng 8% so với cùng kỳ. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đến hết tháng 8/2026 ước đạt 521.336 tỷ đồng, bằng 80,2% dự toán năm và tăng 8,9% so với cùng kỳ năm 2025.
Trước đó, số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy, bức tranh kinh tế Việt Nam 7 tháng năm 2026 tiếp tục ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực khi sản xuất công nghiệp duy trì đà tăng cao, hoạt động xuất nhập khẩu mở rộng mạnh, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng cả về đăng ký và thực hiện, trong khi vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước tiếp tục được đẩy nhanh.
Sản xuất công nghiệp tiếp tục là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 7 ước tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 14,5% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 7 tháng, IIP tăng 11,4% so với cùng kỳ, mức tăng cao nhất của 7 tháng trong nhiều năm qua. Đáng chú ý, sản xuất công nghiệp tăng tại cả 34 tỉnh, thành phố.
Hoạt động thương mại quốc tế cũng tăng trưởng mạnh. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa 7 tháng đạt 659,58 tỷ USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu đạt 319,53 tỷ USD, tăng 21,7%; nhập khẩu đạt 340,05 tỷ USD, tăng 34,8%. Nhóm hàng công nghiệp chế biến tiếp tục giữ vai trò chủ lực với kim ngạch 287,91 tỷ USD, chiếm 90,1% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Nhập khẩu tăng mạnh, trong đó nhóm tư liệu sản xuất chiếm 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu, phản ánh nhu cầu nguyên liệu, máy móc và đầu vào cho sản xuất. Tuy nhiên, do nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu, cán cân thương mại hàng hóa 7 tháng nhập siêu 20,52 tỷ USD, trong khi cùng kỳ năm trước xuất siêu 10,35 tỷ USD.
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục là điểm sáng. Tính đến ngày 31/7/2026, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam, gồm vốn cấp mới, điều chỉnh và góp vốn, mua cổ phần, đạt 38,06 tỷ USD, tăng 58% so với cùng kỳ. Vốn FDI thực hiện đạt 15,2 tỷ USD, tăng 11,8%, cho thấy dòng vốn đăng ký đang từng bước được chuyển hóa thành nguồn lực cho sản xuất, kinh doanh.
Cùng với FDI, đầu tư công tiếp tục được thúc đẩy nhằm tạo thêm động lực cho nền kinh tế. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng 7 ước đạt 98,6 nghìn tỷ đồng, tăng 25,9% so với cùng kỳ. Tính chung 7 tháng, vốn thực hiện đạt 445,5 nghìn tỷ đồng, bằng 39% kế hoạch năm và tăng 18,4% so với cùng kỳ năm 2025.
Thị trường trong nước cũng duy trì tăng trưởng khi tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 7 tháng đạt 4.555,8 nghìn tỷ đồng, tăng 13,1% so với cùng kỳ; nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,5%.
Những kết quả trên nối tiếp đà tăng trưởng của nửa đầu năm. GDP quý I/2026 tăng 7,94%, quý II tăng 8,39%; tính chung 6 tháng đầu năm tăng 8,18% so với cùng kỳ năm 2025. Việc tốc độ tăng trưởng quý II cao hơn quý I, cùng với những chuyển biến tích cực của sản xuất, thương mại, đầu tư và tiêu dùng trong tháng 7, tháng 8 đang tạo nền tảng cho tăng trưởng những tháng cuối năm.
Năm 2026, nguồn lực dành cho đầu tư công được đẩy lên quy mô rất lớn. Quy mô vốn lớn tạo dư địa đáng kể cho đầu tư kết cấu hạ tầng, mở rộng không gian phát triển, đồng thời đặt áp lực rất lớn lên tiến độ thực hiện. Theo TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng và Giám đốc Viện Đào tạo, Nghiên cứu BIDV, kế hoạch đầu tư công năm nay vào khoảng 1,1 triệu tỷ đồng, tăng 31% so với năm trước. Đây là nguồn lực quan trọng nếu được chuyển hóa kịp thời thành công trình và năng lực sản xuất mới.
Trong ngắn hạn, kết quả tăng trưởng 8,18% của 6 tháng đầu năm cùng đà đi lên của nhiều chỉ tiêu kinh tế trong tháng 7 và tháng 8 cho thấy nền kinh tế đang duy trì động lực tích cực. Nếu các động lực từ sản xuất công nghiệp, xuất khẩu, đầu tư công, FDI và tiêu dùng tiếp tục được phát huy trong những tháng còn lại, đây sẽ là nền tảng quan trọng để Việt Nam tiến gần hơn tới mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026 và tạo nền tảng cho giai đoạn tiếp theo.
Những kết quả tích cực của các chỉ số kinh tế không chỉ củng cố nền tảng ngắn hạn mà còn khẳng định vị thế của Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế về chặng đường phát triển dài hạn phía trước cuả đất nước.
Chia sẻ tại Hội thảo quốc tế về kinh tế phát triển lần thứ nhất với chủ đề “Phát triển kinh tế và Chuyển đổi bền vững - EDAST 2026” do Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội (UEB - VNU) phối hợp cùng Trung tâm Nông nghiệp nhiệt đới Quốc tế (CIAT) tổ chức vào cuối tháng 8/2026 tại Hà Nội, GS.TS Keunjae Lee - Đại học Quốc gia Pusan, Hàn Quốc bày tỏ ấn tượng trước tốc độ phát triển kinh tế của Việt Nam sau 40 năm Đổi mới (1986-2026).
Theo GS.TS Keunjae Lee: “Việt Nam đã làm thế giới ngạc nhiên, khi từ một nền kinh tế lạc hậu đã vươn lên trở thành một nền kinh tế với tốc độ phát triển mạnh mẽ”.
Đánh giá cao những thành tựu phát triển của Việt Nam, PGS.TS Hoàng Khắc Lịch - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, chặng đường phía trước đặt ra những yêu cầu mới và cao hơn. Khát vọng trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 đòi hỏi Việt Nam không chỉ duy trì tốc độ tăng trưởng mà còn phải chuyển đổi mạnh về mô hình tăng trưởng, cơ cấu kinh tế, công nghệ, nguồn nhân lực và chất lượng thể chế.