Gỡ điểm nghẽn cho xuất khẩu nông sản - Bài 2: Từ vùng trồng đến nuôi biển

Sau những điểm nghẽn về logistics và dòng vốn, nhiều ngành hàng xuất khẩu chủ lực tiếp tục đối mặt với khó khăn trong tổ chức sản xuất và quản lý. Từ chuẩn hóa mã số vùng trồng đến hoàn thiện cơ chế phát triển nuôi biển, tháo gỡ các rào cản này sẽ góp phần mở rộng dư địa tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam.

Chú thích ảnh
Vùng trồng sầu riêng được chuẩn hóa, quản lý mã số và truy xuất nguồn gốc là điều kiện quan trọng để duy trì thị trường xuất khẩu.

Chuẩn hóa mã số vùng trồng để giữ thị trường xuất khẩu

Sau những giải pháp nhằm giảm áp lực về logistics và dòng vốn, một yêu cầu khác đang đặt ra đối với ngành nông nghiệp là hoàn thiện cơ chế quản lý để đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường nhập khẩu. Thực tế từ ngành hàng sầu riêng cho thấy, nhiều dư địa tăng trưởng vẫn còn rất lớn, nhưng chỉ có thể được khai thác hiệu quả khi những điểm nghẽn về thể chế, tổ chức sản xuất và quản lý dữ liệu được tháo gỡ đồng bộ.

Những năm gần đây, sầu riêng đã trở thành một trong những ngành hàng có tốc độ tăng trưởng nhanh, đóng góp quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu nông sản. Riêng tại Đắk Lắk, loại cây trồng này đang giữ vai trò chủ lực trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp của địa phương.

Ông Lê Anh Trung, Chủ tịch Hiệp hội Sầu riêng tỉnh Đắk Lắk cho biết, đến năm 2026 toàn tỉnh có khoảng 45.000 ha sầu riêng, trong đó khoảng 30.000 ha đang cho thu hoạch với sản lượng ước đạt 500.000 tấn. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu sầu riêng của địa phương đạt khoảng 1,1 tỷ USD, chiếm gần 30% tổng kim ngạch xuất khẩu sầu riêng của cả nước.

Để đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu, đặc biệt là Trung Quốc, Đắk Lắk đã xây dựng khoảng 280 mã số vùng trồng (MSVT) với diện tích khoảng 10.000 ha và 42 mã số cơ sở đóng gói (MSCSĐG) phục vụ xuất khẩu.

Tuy nhiên, cùng với tốc độ phát triển nhanh, công tác quản lý MSVT và MSCSĐG cũng bộc lộ nhiều bất cập. Ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam (Vinafruit) cho rằng, quy trình cấp MSVT và MSCSĐG hiện vẫn còn nhiều khâu, thời gian xử lý hồ sơ kéo dài, trong khi người dân và doanh nghiệp chưa được hướng dẫn đầy đủ về quy trình thực hiện. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu, nhất là trong thời điểm thu hoạch chính vụ.

Theo ông Nguyên, một khó khăn khác là việc nhiều hộ sản xuất cùng sử dụng chung một MSVT dẫn đến chất lượng sản phẩm không đồng đều. Chỉ cần một hộ vi phạm quy định về dư lượng hoặc kiểm dịch thực vật, toàn bộ vùng trồng sử dụng chung mã số có thể bị ảnh hưởng, làm gia tăng rủi ro đối với hoạt động xuất khẩu.

Bên cạnh đó, mối liên kết giữa đơn vị sở hữu MSVT và doanh nghiệp thu mua ở nhiều nơi còn thiếu chặt chẽ, trong khi cơ chế quản lý chưa đủ để ngăn chặn tình trạng sử dụng hoặc chuyển nhượng mã số không đúng quy định. Đây là một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả của công tác truy xuất nguồn gốc và ảnh hưởng đến uy tín của ngành hàng trên thị trường quốc tế.

Theo ông Lê Anh Trung, việc chuẩn hóa công tác quản lý MSVT và MSCSĐG theo yêu cầu của nước nhập khẩu cần được thực hiện đồng bộ với ứng dụng công nghệ số trong quản lý dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và giám sát toàn bộ chuỗi sản xuất.

Chú thích ảnh
Quản lý chặt mã số vùng trồng và truy xuất nguồn gốc góp phần kiểm soát chất lượng, đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu.

Cùng quan điểm, ông Nguyên kiến nghị cơ quan quản lý tiếp tục đơn giản hóa thủ tục cấp mã số, xây dựng hệ thống dữ liệu tập trung và từng bước chuyển từ phương thức "tiền kiểm" sang "hậu kiểm". Việc đổi mới phương thức quản lý không chỉ giảm thủ tục hành chính mà còn nâng cao trách nhiệm của các chủ thể tham gia chuỗi sản xuất, góp phần duy trì ổn định thị trường xuất khẩu.

Tháo gỡ rào cản để phát triển nuôi biển

Bên cạnh các ngành hàng nông sản trên đất liền, nuôi biển được đánh giá là một trong những lĩnh vực còn nhiều dư địa tăng trưởng của ngành thủy sản. Theo bà Nguyễn Thị Hồng Nhung, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, trong bối cảnh nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến và xuất khẩu ngày càng hạn chế, phát triển nuôi biển công nghiệp là hướng đi quan trọng để tạo thêm nguồn cung và mở rộng dư địa tăng trưởng.

Chú thích ảnh
Biểu đồ xuất khẩu thủy sản Việt Nam 1993 - 2025. Nguồn: Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam

Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km, hơn 3.000 đảo và vùng đặc quyền kinh tế rộng khoảng 1 triệu km². Theo tài liệu của Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, khoảng 0,1% diện tích vùng đặc quyền kinh tế hiện nằm trong khu vực có điều kiện phù hợp để phát triển nuôi cá biển, với độ sâu 20 - 100 m, tốc độ dòng chảy 0,10 - 1,0 m/s và vị trí đủ gần cơ sở hậu cần trên bờ hoặc đảo.

Với năng suất nuôi cá biển trung bình ở vùng nhiệt đới khoảng 9.900 - 12.000 tấn/km², nếu sử dụng 0,1% diện tích vùng đặc quyền kinh tế, Việt Nam có thể có khoảng 1.000 km² diện tích nuôi, tương ứng sản lượng khoảng 10 triệu tấn cá biển mỗi năm, chưa kể các loại hải sản khác.

Tuy nhiên, tiềm năng này chưa được khai thác tương xứng. Hiện cả nước có khoảng 50.000 trại nuôi biển, trong đó 99% có quy mô hộ gia đình. Theo Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, hoạt động nuôi biển hiện còn mang tính tự phát, manh mún, công nghệ lạc hậu, phụ thuộc nhiều vào điều kiện sóng, gió, bão; con giống chưa được kiểm soát, thức ăn còn tận dụng nguồn tươi sống, thiếu liên kết chuỗi, chưa có đầy đủ tiêu chuẩn, quy chuẩn và năng lực quản trị còn hạn chế.

NUÔI BIỂN KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN MỚI
3.260 km Bờ biển
Hơn 3.000 Đảo
Khoảng 1 triệu km² Vùng đặc quyền kinh tế
0,1% EEZ Có thể sử dụng cho nuôi cá biển trong các điều kiện phù hợp
Khoảng 1.000 km² Diện tích nuôi nếu sử dụng 0,1% EEZ
Sản lượng cá biển tiềm năng Khoảng 10 triệu tấn/năm

Từ thực trạng này, Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam cho rằng cần từng bước chuyển sang nuôi biển công nghiệp, tiến ra vùng biển mở, xa bờ, thay vì chỉ cải tiến vật liệu lồng bè. Một trong những hướng được đề xuất là phát triển các cụm công nghiệp nuôi biển tập trung, trong đó doanh nghiệp đầu tư hạ tầng và cung cấp dịch vụ để doanh nghiệp, hợp tác xã và ngư dân thuê, sử dụng tổ chức sản xuất.

Theo mô hình này, cụm công nghiệp nuôi biển gồm hạ tầng sản xuất thủy sản trên biển, hạ tầng dịch vụ tổng hợp trên bờ và hệ thống kết nối giữa hai khu vực. Đây được kỳ vọng là phương thức tổ chức sản xuất quy mô lớn, góp phần tăng sản lượng, giá trị và tạo điều kiện tích hợp nuôi biển với các ngành kinh tế biển khác như du lịch, điện gió.

Chú thích ảnh
Một số mô hình tích hợp nuôi biển kết hợp với các ngành kinh tế khác. Nguồn: Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam

Theo bà Nhung, để thúc đẩy nuôi biển công nghiệp, một trong những yêu cầu quan trọng là tiếp tục hoàn thiện chính sách. Hiệp hội đề xuất đơn giản hóa thủ tục giao khu vực biển với thời hạn có thể lên tới 50 năm, xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn cho nuôi biển công nghiệp, hoàn thiện cơ chế đăng kiểm cơ sở nuôi biển, chính sách bảo hiểm rủi ro và thu hút nguồn tài chính đầu tư cho lĩnh vực này.

Từ câu chuyện quản lý MSVT đối với ngành hàng sầu riêng đến yêu cầu hoàn thiện cơ chế phát triển nuôi biển cho thấy, cùng với logistics và dòng vốn, tổ chức sản xuất và thể chế đang là những điểm nghẽn cần được tháo gỡ để mở rộng không gian tăng trưởng.

Việc hoàn thiện cơ chế giao khu vực biển và các chính sách liên quan được kỳ vọng tạo cơ sở pháp lý ổn định để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư công nghệ, hình thành vùng nuôi tập trung, phát triển chuỗi liên kết và nâng cao năng lực cung ứng nguyên liệu cho chế biến, xuất khẩu.

Bài cuối: Đồng hành cùng doanh nghiệp

Bài, ảnh: Lưu Niệm/Báo Tin tức và Dân tộc
Gỡ điểm nghẽn cho xuất khẩu nông sản - Bài 1: Từ nút thắt logistics và dòng vốn
Gỡ điểm nghẽn cho xuất khẩu nông sản - Bài 1: Từ nút thắt logistics và dòng vốn

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đang đứng trước yêu cầu duy trì tăng trưởng trong bối cảnh chi phí logistics gia tăng, áp lực tiêu chuẩn thị trường ngày càng khắt khe và nhiều rào cản về tín dụng, thủ tục hành chính.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN