Tạo điều kiện để cán bộ đề xuất cách làm mới
Theo Tiến sĩ Trần Quý, Viện trưởng Viện Phát triển Kinh tế số Việt Nam, một trở ngại đối với đổi mới sáng tạo trong khu vực công là người trực tiếp xử lý công việc có kiến thức, kinh nghiệm nhưng vẫn dè dặt khi đề xuất cải tiến. Tâm lý lo va chạm, sợ làm sai, cùng những ràng buộc trong cơ chế khuyến khích khiến nhiều ý tưởng chưa được nêu ra.
“Những người công chức thực ra được đào tạo rất bài bản, hiểu được công việc của mình. Tuy nhiên, nhiều năm vừa rồi đổi mới sáng tạo từ khối này rất hạn chế. Hạn chế không phải vì họ không biết đổi mới sáng tạo mà họ ngại đưa ra những sáng kiến”, TS Trần Quý nhận định.
Theo ông, việc chuyển hiểu biết và kinh nghiệm thành đề xuất còn phụ thuộc vào môi trường làm việc. Khối lượng nhiệm vụ và những đặc thù của khu vực công có thể khiến cán bộ chọn cách làm quen thuộc, thay vì thử một phương án khác. Vì vậy, muốn thúc đẩy sáng kiến, cơ quan cần tìm hiểu điều gì khiến đội ngũ ngại nêu vấn đề, thay vì chỉ đánh giá qua số lượng đề xuất.
Vai trò của lãnh đạo thể hiện trước hết ở việc tạo cơ hội để người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ trình bày những bất cập trong quy trình, cũng như nhu cầu phát sinh khi tiếp nhận công việc mới. Những trao đổi này giúp cơ quan xác định nội dung cần cải tiến và lựa chọn hình thức hỗ trợ phù hợp.
Tuy nhiên, nhận ra vướng mắc mới là bước đầu. Tiến sĩ Trần Quý cho rằng các đơn vị cung cấp dịch vụ công cần được hỗ trợ về phương pháp và công cụ để diễn đạt rõ vấn đề cấp thiết. Một yêu cầu cụ thể sẽ giúp viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp hiểu đơn vị đang cần gì, từ đó trao đổi về giải pháp và điều kiện thực hiện.
Cùng với việc khơi gợi nhu cầu, cơ chế ghi nhận đóng góp cũng ảnh hưởng đến động lực đổi mới. Ông Trần Quý dẫn sự khác biệt giữa doanh nghiệp và khu vực công: Chủ doanh nghiệp có thể chủ động dành mức thưởng cao cho đóng góp mang tính đột phá, còn cơ quan nhà nước phải thực hiện việc ghi nhận, khen thưởng theo các khung quy định.
Theo ông, thể chế vẫn là điểm nghẽn lớn cần được quan tâm khi thúc đẩy sáng kiến trong khu vực công. Cơ chế khuyến khích phải đi cùng môi trường làm việc để cán bộ có điều kiện phát huy năng lực, mạnh dạn nêu những bất cập và đề xuất cách giải quyết.
Tiến sĩ Trần Quý kỳ vọng các chủ trương từ Nghị quyết 57 và chính sách của địa phương sẽ thúc đẩy nhu cầu đổi mới trong dịch vụ công. Ông đề nghị chú trọng ứng dụng các giải pháp chuyển đổi số, kinh tế số và hoạt động trên môi trường số, xuất phát từ những vấn đề cụ thể mà từng cơ quan đang cần xử lý.
Đưa giải pháp vào công việc tại cơ sở
Từ phía đơn vị nghiên cứu, PGS. Tiến sĩ Thoại Nam, Giám đốc Trung tâm Kỹ thuật Điện toán, Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh), cho biết các phường, xã có nhu cầu ứng dụng công nghệ để xử lý công việc và phục vụ người dân, doanh nghiệp hiệu quả hơn. Nhu cầu này càng cấp thiết khi nhân lực tại cơ sở còn hạn chế, trong khi số lượng người dân và doanh nghiệp cần phục vụ lớn.
Dù vậy, sản phẩm mà các đơn vị nghiên cứu và doanh nghiệp đang cung cấp chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của địa phương. Khoảng cách giữa nhu cầu sử dụng và khả năng của sản phẩm đòi hỏi các bên phải trao đổi trực tiếp để hiểu khó khăn, lựa chọn giải pháp và thống nhất cách triển khai.
“Địa phương đang cần một giải pháp, nhưng sản phẩm của các đơn vị chúng ta đang có thì chưa đáp ứng được câu chuyện đó”, PGS.TS Thoại Nam nói.
Với những vấn đề lớn trong giao thông, giáo dục, y tế hay môi trường, theo ông, một đơn vị dù có năng lực mạnh cũng khó giải quyết nếu hoạt động riêng lẻ. Thành phố cần mạnh dạn nêu những vấn đề cần xử lý và tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia; các viện, trường cũng phải chủ động kết nối với doanh nghiệp trong quá trình nghiên cứu, phát triển sản phẩm.
Từ kinh nghiệm kết nối Trường Đại học Bách khoa với doanh nghiệp và địa phương, ông Thoại Nam nhấn mạnh yếu tố lòng tin. Khi nhiều đơn vị cùng giới thiệu khả năng đáp ứng, địa phương cần lựa chọn đối tác có giải pháp phù hợp và năng lực thực hiện. Sự tin tưởng phải được xây dựng từ kinh nghiệm và hiệu quả giải quyết công việc.
Việc hợp tác cũng cần tính đến quá trình đưa sản phẩm vào sử dụng và tiếp tục phát triển sau nghiên cứu. Nhà trường không thể đảm nhiệm mọi khâu, trong khi địa phương cần một giải pháp vận hành được trong công việc hằng ngày. Vì vậy, Trung tâm Kỹ thuật Điện toán hướng đến phối hợp với các công ty, phân công phần việc phù hợp với năng lực của từng bên.
Ông Thoại Nam lưu ý quá trình này phải gắn với trách nhiệm xã hội, tác động môi trường và tính bền vững. Hiệu quả giải quyết vấn đề là cơ sở để địa phương tiếp tục tin tưởng, hợp tác với đơn vị cung cấp.
Bên cạnh sản phẩm phù hợp, đơn vị sử dụng cần có đội ngũ đủ năng lực tiếp nhận. Theo ông, nguồn nhân lực hiện nay có dấu hiệu chưa theo kịp yêu cầu đổi mới, nên cần chiến lược đào tạo lại và đào tạo liên tục. Việc nâng cao năng lực phải được chuẩn bị cùng với phát triển giải pháp để ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đạt hiệu quả.
Về chính sách nhân lực, Tiến sĩ Bùi Ngọc Hiển, Học viện Cán bộ TP Hồ Chí Minh, cho rằng các cơ quan, đơn vị cần phối hợp xuyên suốt quá trình thu hút, trọng dụng, sử dụng và đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao. Chính sách phải xác định rõ vai trò, trách nhiệm của từng bên và cơ chế điều phối, bảo đảm sự gắn kết khi thực hiện.
Ở cấp cơ quan sử dụng nhân sự, Tiến sĩ Nguyễn Thị Phương, Phó Giám đốc Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại TP Hồ Chí Minh, đề nghị người đứng đầu các sở, ngành và địa phương được chủ động đề xuất tuyển dụng người có chuyên môn đặc thù khi phát sinh nhu cầu đột xuất.
Bà dẫn ví dụ về nhu cầu chuyên gia quy hoạch tổng thể của ngành xây dựng, qua đó nhấn mạnh việc tuyển dụng cần xuất phát từ yêu cầu công việc của từng cơ quan. Đây cũng là điều kiện để đơn vị có người đủ chuyên môn giải quyết nhiệm vụ mới và tiếp nhận những giải pháp đổi mới trong thực tế.