Huy động hơn 17.400 tỷ đồng chống sạt lở bờ biển, bờ sông

Giai đoạn 2021 - 2025 và định hướng đến năm 2030, tỉnh Kiên Giang có kế hoạch huy động nguồn lực đầu tư 200 công trình phòng, chống sạt lở bờ biển, bờ sông trên địa bàn; trong đó phòng, chống sạt lở bờ biển 18 công trình, bờ sông 182 công trình, với tổng nhu cầu vốn hơn 17.400 tỷ đồng.
Chú thích ảnh
Kè chống sạt lở bờ biển khu vực Mũi Rãnh, huyện An Biên (Kiên Giang) đã xây dựng hoàn thành. 

Theo đó, giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh triển khai thực hiện 18 công trình kè phòng, chống sạt lở bờ biển, tổng chiều dài hơn 71 km, kinh phí 2.450 tỷ đồng và 72 công trình kè bờ sông, tổng chiều dài trên 480 km, kinh phí 7.958 tỷ đồng.

Tiếp đến, giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh tiếp tục thực hiện 110 công trình kè phòng, chống sạt lở bờ sông, tổng chiều dài hơn 586 km, kinh phí khoảng 6.937 tỷ đồng.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang Lê Quốc Anh nhấn mạnh, tỉnh chủ động quản lý, phòng, chống sạt lở bờ biển, bờ sông, tạo điều kiện ổn định và phát triển kinh tế - xã hội khu vực ven biển, ven sông. Từ đó, góp phần đảm bảo an ninh, quốc phòng, an toàn tính mạng, tài sản và sản xuất của nhân dân.

Về triển khai phòng, chống sạt lở, tỉnh đã thực hiện đồng bộ, xử lý cấp bách trước mắt và căn cơ lâu dài, kết hợp giải pháp công trình và phi công trình, không làm tăng nguy cơ sạt lở gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn, phòng hộ ven biển, tạo sinh kế cho người dân.

Tỉnh phòng, chống sạt lở bờ biển, bờ sông thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên đảm bảo an toàn hệ thống đê điều, khu dân cư tập trung, cơ sở hạ tầng quan trọng, chống suy thoái rừng phòng hộ ven biển tại những khu vực xói lở nghiêm trọng không thể phục hồi.

Ngành chức năng tỉnh phối hợp với các địa phương tăng cường truyền thông, nâng cao nhận thức của tổ chức, cá nhân về phòng, chống sạt lở bờ biển, bờ sông nhằm giảm nguy cơ sạt lở, rủi ro, thiệt hại do sạt lở. Ngành chức năng điều tra cơ bản xây dựng cơ sở dữ liệu liên quan đến sạt lở bờ biển, bờ sông trên địa bàn tỉnh, đồng thời tăng cường quản lý chặt chẽ các hoạt động ven sông, ven biển ảnh hưởng đến sạt lở.

Ngành chức năng thực hiện quan trắc, dự báo, kịp thời cảnh báo nguy cơ sạt lở bờ biển, bờ sông, ứng dụng khoa học công nghệ, vật liệu mới phù hợp với điều kiện cụ thể của từng khu vực để phòng, chống sạt lở bờ biển, bờ sông; xây dựng công trình tại các khu vực trọng điểm để phòng, chống sạt lở, bảo vệ an toàn tính mạng, tài sản nhân dân và công trình hạ tầng thiết yếu.

Theo lãnh đạo tỉnh Kiên Giang, giải pháp cấp bách trước mắt tổ chức cắm biển cảnh báo tại những khu vực bị sạt lở và có nguy cơ cao xảy ra sạt lở; kiểm soát chặt chẽ hoạt động khai thác đất, cát trên sông và vùng ven biển, đảo, khắc phục tình trạng mất cân bằng bùn cát để hạn chế nguy cơ sạt lở.

Tỉnh chỉ đạo các địa phương tổ chức di dời khẩn cấp các hộ dân ra khỏi khu vực bờ biển, bờ sông bị sạt lở, bố trí tái định cư theo các hình thức tái định cư xen ghép hoặc xây dựng khu tái định cư tập trung phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương.

Tỉnh tập trung xây dựng các công trình khắc phục sự cố sạt lở ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn dân cư, cơ sở hạ tầng quan trọng ven sông, ven biển và rừng phòng hộ ven biển, nhất là rừng ngập mặn bảo vệ trực tiếp đê biển.

Cùng đó, bên cạnh diện tích rừng ngập mặn được trồng mới và phục hồi thuộc các dự án xây dựng kè phá sóng, gây bồi, tạo bãi ven biển Tây, tỉnh Kiên Giang đã và đang triển khai thực hiện trồng rừng trong các dự án xây dựng kè hơn 644 ha.

Ban Quản lý rừng Kiên Giang dự kiến kế hoạch trồng rừng bãi bồi rừng phòng hộ ven biển, bảo vệ cây mới trồng giai đoạn 2022 - 2025 trong kè phá sóng, gây bồi, tạo bãi diện tích 63 ha rừng hỗn giao với cây mắm, bần… ở bãi bồi ven biển huyện An Biên với kinh phí đầu tư hơn 20 tỷ đồng.

Tin, ảnh: Lê Huy Hải (TTXVN)

Dành cho bạn

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài cuối: Những tuyến đường đến các cực tăng trưởng mới

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài cuối: Những tuyến đường đến các cực tăng trưởng mới

Cao tốc, sân bay và cảng biển tạo lợi thế tiếp cận, nhưng dòng vốn chỉ ở lại nơi có đất sạch, điện, nước, nhân lực, môi trường và thủ tục đủ tin cậy. Từ Vân Phong, Nhơn Hội, Buôn Ma Thuột đến Liên Chiểu và các đô thị dọc cao tốc Lâm Đồng, miền Trung - Tây Nguyên đang hình thành nhiều điểm hội tụ mới. Thách thức là biến các dự án riêng lẻ thành hệ sinh thái và phân chia lợi ích liên vùng.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa

Hạ tầng có thể rút ngắn một chuyến xe, nhưng chưa chắc nâng giá trị một tấn nông sản. Giá trị chỉ tăng khi vùng nguyên liệu được số hóa, sản phẩm được bảo quản, chế biến, kiểm định và bán bằng thương hiệu của mình. Từ cà phê, sầu riêng ở Đắk Lắk, rau hoa và trái cây Lâm Đồng đến dữ liệu di sản Huế, chuỗi giá trị mới đang đòi hỏi hạ tầng rộng hơn đường sá: hạ tầng số, tiêu chuẩn và năng lực sáng tạo.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 2: Để cảng biển không thành 'đảo hạ tầng'

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 2: Để cảng biển không thành 'đảo hạ tầng'

Miền Trung có chuỗi cảng nước sâu trải dọc bờ biển, còn phía Tây là vùng sản xuất rộng lớn nối sang Lào và Campuchia nhưng một cầu cảng lớn không mặc nhiên có nguồn hàng, cũng như một tuyến cao tốc chưa chắc tạo nên hành lang kinh tế. Cuộc cạnh tranh mới nằm ở năng lực tổ chức hậu phương cảng, vận tải đa phương thức và hệ sinh thái dịch vụ giữ hàng hóa ở lại lâu hơn.