Dự báo sản lượng điều hành bay tháng 3 của VATM giảm 50%

Đại diện Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam (VATM) cho biết, thời điểm cuối năm 2019, trung bình trong một ngày, VATM điều hành gần 2.500 lần chuyến.

Tuy nhiên ngày 17/3 vừa qua, số chuyến điều hành trong ngày chỉ đạt 991 lần chuyến, dự báo trong tháng 3/2020, sản lượng điều hành bay của VATM giảm 50%.

Chú thích ảnh
Máy bay của các hãng hàng không Việt Nam tại sân bay Nội Bài. Ảnh: TTXVN

Báo cáo của VATM cho biết, do vị trí địa lý của Việt Nam, các chuyến bay quá cảnh theo tuyến Đông Tây đi/đến Trung Quốc chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số sản lượng điều hành bay dẫn đến sản lượng điều hành bay sụt giảm nghiêm trọng do ảnh hưởng của dịch COVID-19.

Chỉ tính riêng trong tháng 2/2020, tổng sản lượng điều hành bay qua giảm hơn 14.599 chuyến, tương đương giảm 40% so với cùng kỳ năm ngoái; sản lượng điều hành bay đi, đến (các chuyến bay quốc tế) giảm gần 3.415 chuyến, tương đương giảm 27% so với cùng kỳ năm ngoái.

Trong tháng 3/2020, các hãng hàng không tiếp tục cắt giảm thêm các chuyến bay đi/đến các vùng dịch mới trên thế giới, sản lượng điều hành bay dự báo sẽ tiếp tục sụt giảm, ước tính giảm gần 47% so với kết quả của tháng 3/2019.

“Việc giảm sản lượng điều hành bay đồng nghĩa với tổng doanh thu của năm 2020 sẽ giảm tương ứng. Trước bối cảnh tình hình dịch bệnh tiếp tục diễn biến phức tạp, Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam dự kiến xây dựng lại kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2020; trong đó có tính toán đến các kịch bản thời điểm công bố hết dịch”, đại diện VATM cho biết.

Bên cạnh việc sụt giảm doanh thu do sụt giảm sản lượng, chỉ tiêu doanh thu của VATM tiếp tục ảnh hưởng do các hãng hàng không gặp khó khăn về tài chính dẫn tới khó khăn trong việc thanh toán giá dịch vụ điều hành bay. Hiện, một số hãng hàng không đề nghị cho chậm thanh toán và giảm giá điều hành bay. Một số hãng hàng không còn nợ tiền điều hành bay chưa thanh toán.

Năm 2019, VATM đã điều hành bay an toàn 972.081 lần chuyến bay, tăng 11,01% so với năm 2018. Tổng doanh thu đạt 4.262 tỷ đồng. Nộp ngân sách nhà nước 3.384 tỷ đồng.

Quang Toàn (TTXVN)

Dành cho bạn

Tỉnh Phú Thọ thúc đẩy xúc tiến đầu tư, thương mại tại CH Séc

Tỉnh Phú Thọ thúc đẩy xúc tiến đầu tư, thương mại tại CH Séc

Ngày 27/10, tại Trung tâm Thương mại Sapa, thủ đô Praha, tỉnh Phú Thọ tổ chức hội nghị xúc tiến đầu tư, thương mại với các doanh nghiệp CH Séc nhằm giới thiệu môi trường đầu tư, tìm kiếm đối tác và thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và năng lượng xanh.

Khơi thông nguồn lực đảng viên làm kinh tế -Bài cuối: Cần gắn với liêm chính và trách nhiệm

Khơi thông nguồn lực đảng viên làm kinh tế -Bài cuối: Cần gắn với liêm chính và trách nhiệm

Đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh góp phần bổ sung nguồn lực cho phát triển kinh tế. Để phát huy nguồn lực này, tổ chức Đảng cần khuyến khích làm giàu chính đáng, đồng thời kiểm soát xung đột lợi ích. Mỗi đảng viên phải giữ liêm chính, nêu gương và thực hiện đầy đủ trách nhiệm.

Khơi thông nguồn lực đảng viên làm kinh tế- Bài 2: Đưa chủ trương thành động lực phát triển

Khơi thông nguồn lực đảng viên làm kinh tế- Bài 2: Đưa chủ trương thành động lực phát triển

Từ khu dân cư đến khu công nghiệp, việc khuyến khích đảng viên làm kinh tế cần được cụ thể hóa bằng hướng dẫn, thông tin và kết nối hỗ trợ. Khi tổ chức Đảng nắm rõ nhu cầu, cơ quan chuyên môn giải quyết đúng trách nhiệm, người có ý tưởng kinh doanh có cơ hội để bắt đầu.

Khơi thông nguồn lực đảng viên làm kinh tế- Bài 1: Gỡ vướng để đảng viên làm giàu chính đáng

Khơi thông nguồn lực đảng viên làm kinh tế- Bài 1: Gỡ vướng để đảng viên làm giàu chính đáng

Muốn làm kinh tế, đảng viên cần vượt qua áp lực thị trường và hiểu rõ quyền, trách nhiệm của mình. Quy định số 224-QĐ/TW của Đảng đang tạo thêm cơ sở phát huy nguồn lực ấy. Để chủ trương này trở thành động lực, đảng cần đồng hành giải đáp vướng mắc, hỗ trợ đúng việc và minh bạch.

Minh bạch dữ liệu để nâng giá trị nông sản Việt

Minh bạch dữ liệu để nâng giá trị nông sản Việt

Nông sản muốn giữ vững niềm tin của người mua cần có thông tin đáng tin cậy về nguồn gốc và quá trình sản xuất. Để đáp ứng yêu cầu này, các bên trong chuỗi cần phối hợp thu thập, kiểm chứng dữ liệu và chia sẻ chi phí với người nông dân.