Điều chỉnh chính sách thực hiện cam kết COP26

Trong khuôn khổ nhiệm vụ khoa học cấp Nhà nước về nghiên cứu thực hiện các cam kết tại COP26 của một số quốc gia và hàm ý chính sách cho Việt Nam, ngày 5/12, Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững phối hợp với Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia tổ chức Hội thảo khoa học “Điều chỉnh chính sách nhằm thực hiện các cam kết COP26 ở các nước trên thế giới và bài học cho Việt Nam”.
Chú thích ảnh
Nhà máy điện gió Hàn Quốc - Trà Vinh. Ảnh tư liệu: Vũ Sinh/TTXVN

Sự kiện nhằm tạo diễn đàn khoa học để các nhà nghiên cứu, chuyên gia trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn của Việt Nam trong quá trình triển khai mục tiêu phát thải ròng bằng “0” mà Việt Nam đã cam kết tại Hội nghị COP26.

Hội thảo gồm 4 phiên thảo luận chuyên đề, tập trung vào những trụ cột quan trọng của chuyển đổi xanh như điều chỉnh chính sách khí hậu, chính sách năng lượng, tài chính, khí hậu, tài chính xanh và hợp tác quốc tế. Với sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhà khoa học uy tín, sự kiện dự kiến mang đến các góc nhìn mới và gợi mở nhiều khuyến nghị chính sách thiết thực cho Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Tiến sĩ Nguyễn Song Tùng, Viện trưởng Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững nhấn mạnh, sau COP26, các quốc gia trên thế giới đã bước vào giai đoạn triển khai mạnh mẽ các kế hoạch khí hậu, trong đó mục tiêu đạt phát thải ròng bằng 0 vào giữa thế kỷ được coi là định hướng trung tâm. Điều chỉnh chính sách vì thế trở thành yêu cầu cấp thiết, không chỉ trong lĩnh vực năng lượng, trụ cột then chốt của quá trình giảm phát thải mà còn ở các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, tài chính, thương mại và đối ngoại.

Nhiều quốc gia đã ban hành đạo luật khí hậu, xây dựng cơ chế thị trường carbon, thúc đẩy đầu tư công cho năng lượng tái tạo, cải cách trợ cấp nhiên liệu hóa thạch, đẩy mạnh công nghệ lưu trữ và thu giữ carbon, đồng thời tích hợp mục tiêu khí hậu vào chiến lược phát triển quốc gia. Những mô hình như chiến lược tăng trưởng xanh của Nhật Bản, chuyển dịch năng lượng cân bằng của Indonesia, mô hình kinh tế tích hợp dựa trên công nghệ sinh học, kinh tế tuần hoàn và kinh tế xanh (BCG) của Singapore và Thái Lan hay hệ thống giao dịch carbon của châu Âu cho thấy cách tiếp cận đa dạng và có thể tham khảo.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Song Tùng, việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế sẽ giúp Việt Nam nhận diện các mô hình chuyển đổi hiệu quả, xác định công cụ và điều kiện phù hợp với bối cảnh trong nước. Các phiên thảo luận sẽ gợi mở thêm những vấn đề khoa học quan trọng, đóng góp thiết thực cho định hướng nghiên cứu và quá trình xây dựng chính sách nhằm thực hiện hiệu quả các cam kết khí hậu mà Việt Nam đã đưa ra tại COP26.

Tiến sĩ Đỗ Tá Khánh, Phó Viện trưởng Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững, Chủ nhiệm đề tài cho biết, nghiên cứu “Điều chỉnh chính sách của các nước trên thế giới nhằm thực hiện các cam kết tại COP26 và hàm ý cho Việt Nam” được triển khai từ tháng 2/2025 và dự kiến hoàn thành vào tháng 5/2027. Đây là nhiệm vụ thuộc Chương trình KC.06, nhằm cung cấp luận cứ khoa học phục vụ xây dựng chính sách ứng phó biến đổi khí hậu và thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” của Việt Nam.

Hội thảo lần này được tổ chức như một hoạt động chuyên môn quan trọng của đề tài, nhằm thu thập thêm kinh nghiệm quốc tế và đánh giá những điều chỉnh chính sách của các nước sau COP26. Từ 19 bài viết gửi về, Ban tổ chức đã lựa chọn 9 báo cáo tiêu biểu xoay quanh bốn chủ đề lớn gồm chuyển đổi năng lượng, chính sách giảm phát thải, tài chính, thị trường carbon và mô hình kinh tế xanh. Việc trao đổi học thuật và góp ý của các chuyên gia sẽ giúp đề tài hoàn thiện khung phân tích, nhận diện các mô hình chính sách hiệu quả và rút ra điều kiện áp dụng phù hợp với Việt Nam. Kết quả hội thảo cũng là cơ sở quan trọng để nhóm nghiên cứu xây dựng báo cáo chuyên đề và đề xuất khuyến nghị chính sách trong giai đoạn tiếp theo.

Tiến sĩ Phạm Thị Trầm, Phó Viện trưởng Viện lý nhân văn và phát triển bền vững và Tiến sĩ Nguyễn Hồng Quang, Viện Nghiên cứu Châu Á - Thái Bình Dương (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) cho rằng, kinh nghiệm của Thái Lan cho thấy việc thực hiện các cam kết tại COP26 chỉ hiệu quả khi đi kèm điều chỉnh chính sách đồng bộ, nhất là trong lĩnh vực năng lượng, giao thông, công nghiệp và nông nghiệp. Thái Lan đã đẩy mạnh ưu đãi đầu tư cho công nghệ và hạ tầng giảm phát thải, khuyến khích doanh nghiệp tham gia chuyển đổi thông qua các cơ chế tài chính xanh, thị trường carbon, thuế và tín chỉ carbon, đồng thời thúc đẩy điện mặt trời, điện gió, nhiên liệu sinh học và điện khí hóa giao thông, đặc biệt là phát triển xe điện.

Theo hai chuyên gia, đây là những kinh nghiệm đáng tham khảo cho Việt Nam trong quá trình cụ thể hóa mục tiêu phát thải ròng bằng “0”. Việt Nam cần sớm hoàn thiện khung pháp lý, thiết kế các gói hỗ trợ phù hợp để giảm chi phí chuyển đổi cho doanh nghiệp, kết hợp công cụ thị trường với quy định bắt buộc về kiểm kê và giảm phát thải. Cùng với đó là tăng cường phát triển năng lượng tái tạo, khuyến khích sử dụng phụ phẩm nông nghiệp làm nguồn năng lượng, đầu tư vào công nghệ thu giữ, lưu trữ và sử dụng carbon, qua đó từng bước hình thành mô hình tăng trưởng xanh và bền vững

Trong các phiên thảo luận, đại biểu tập trung phân tích kinh nghiệm điều chỉnh chính sách của nhiều quốc gia trong triển khai cam kết tại COP26, đặc biệt là Nhật Bản, Thái Lan, Indonesia và Singapore. Nhật Bản được đánh giá là mô hình chuyển đổi xanh toàn diện với khung pháp lý đồng bộ, cơ chế định giá carbon GX-ETS, phát hành trái phiếu chuyển đổi khí hậu và huy động khoảng 150 nghìn tỷ yên cho các dự án giảm phát thải; Thái Lan theo đuổi mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050, đẩy mạnh lộ trình năng lượng tái tạo, phát triển thị trường carbon, thuế carbon và chính sách xe điện 30@30 (mục tiêu đến năm 2030, 30% số xe sản xuất trong nước là xe điện), Indonesia triển khai Chương trình chuyển dịch năng lượng công bằng hướng tới loại bỏ dần than, mở rộng hợp tác quốc tế và thu hút tài chính cho năng lượng tái tạo. Một số quốc gia khác như Singapore, Ấn Độ chú trọng thuế carbon, thị trường carbon bắt buộc và ưu đãi mạnh cho công nghệ sạch.

Từ các kinh nghiệm quốc tế, đại biểu đề xuất Việt Nam cần xây dựng khung pháp lý dài hạn, rõ mục tiêu giảm phát thải; mở rộng cơ chế tài chính xanh; phát triển thị trường carbon trong nước; thúc đẩy điện mặt trời, điện gió, hydro xanh; đồng thời đẩy mạnh hợp tác quốc tế để tiếp nhận công nghệ, nguồn lực và mô hình quản trị khí hậu hiện đại. Đây được xem là nền tảng quan trọng để Việt Nam thực hiện hiệu quả mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Lý Thanh Hương (TTXVN)

Dành cho bạn

Quy định mới về trách nhiệm của tổ chức kinh doanh, cung cấp sản phẩm, dịch vụ dữ liệu

Quy định mới về trách nhiệm của tổ chức kinh doanh, cung cấp sản phẩm, dịch vụ dữ liệu

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc ký ban hành Nghị định số 347/2026/NĐ-CP ngày 08/9/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của 4 Nghị định về khoa học, công nghệ, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu; phòng cháy, chữa cháy; xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội, bạo lực gia đình.
Khơi thông dòng vốn đổi mới sáng tạo - Bài cuối: Đưa quỹ phát triển khoa học từ sổ sách vào dự án

Khơi thông dòng vốn đổi mới sáng tạo - Bài cuối: Đưa quỹ phát triển khoa học từ sổ sách vào dự án

Quỹ phát triển khoa học và công nghệ đã tạo ra nguồn vốn đáng kể ngay trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, tại TP Hồ Chí Minh, mới có 33,8% tổng số tiền trích lập được sử dụng. Việc tháo gỡ vướng mắc về thủ tục, mở rộng phạm vi chi và kết nối nguồn quỹ với doanh nghiệp khởi nghiệp được kỳ vọng sẽ đưa nguồn vốn này vào các dự án cụ thể.
Các đô thị chung tay kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Các đô thị chung tay kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Sáng 11/9, tại phường Vũng Tàu, TP Hồ Chí Minh, Hội nghị Thị trưởng diễn ra trong khuôn khổ Đối thoại Hữu nghị TP Hồ Chí Minh lần thứ 3. Lãnh đạo các địa phương trong nước và quốc tế đã chia sẻ nhiều sáng kiến về ngoại giao đô thị, phát triển kinh tế xanh, tăng khả năng chống chịu, xây dựng đô thị thông minh và kết nối logistics. Các ý kiến cùng hướng đến việc chuyển quan hệ hữu nghị thành chương trình hợp tác cụ thể, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân.