Video bà Nguyễn Bội Quỳnh, Hiệu trưởng Trường THPT Việt Đức, Hà Nội chia sẻ:
Phóng viên báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc trao đổi với bà Nguyễn Bội Quỳnh, Hiệu trưởng Trường THPT Việt Đức, Hà Nội về những giải pháp sáng tạo, thực tiễn cùng lộ trình gỡ khó khi đưa Tiếng Anh vào các môn học.
Thưa bà, để triển khai Đề án đưa Tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, Trường THPT Việt Đức đã và đang thực hiện những giải pháp cụ thể nào?
Để triển khai đề án này, Trường THPT Việt Đức đã chủ động đưa ra nhiều giải pháp đồng bộ:
Thứ nhất, xây dựng "Mô hình lớp học không biên giới". Tại đây, các em học sinh có cơ hội giao tiếp trực tuyến hoặc trực tiếp với học sinh các nước trên thế giới thông qua ngôn ngữ chung là Tiếng Anh.
Thứ hai, phát triển hệ thống câu lạc bộ. Trong đó, nhà trường phát triển các câu lạc bộ hợp tác quốc tế, câu lạc bộ Tiếng Anh. Lực lượng nòng cốt là những học sinh giỏi Tiếng Anh của trường nhằm nhân rộng mô hình sử dụng ngoại ngữ, tạo nên các "vùng Tiếng Anh" (English zone) ở khắp mọi nơi trong nhà trường.
Thứ ba, huy động nguồn lực từ cha mẹ học sinh và chuyên gia. Nhà trường tận dụng lợi thế từ những phụ huynh có trình độ ngoại ngữ và am hiểu chuyên môn để tạo không gian nói chuyện cho các con. Đồng thời, nhà trường cũng kết nối với các chuyên gia ở các trường đại học để tổ chức các bài giảng bằng Tiếng Anh.
Thứ tư, đẩy mạnh hợp tác quốc tế: Nhà trường phối hợp với một số trường đại học trên thế giới để giảng dạy trực tuyến các mô-đun ngắn (như về kinh tế) bằng Tiếng Anh. Từ đó, những học sinh tiếp thu tốt sẽ hỗ trợ, "tiếp sức" cho các bạn còn yếu hơn.
Thứ năm, đẩy mạnh truyền thông đa kênh. Quảng bá mạnh mẽ các mặt mạnh của học sinh THPT Việt Đức – một ngôi trường vốn giảng dạy nhiều ngoại ngữ.
Quan điểm của nhà trường là muốn học sinh sử dụng Tiếng Anh như một sinh ngữ – tức là phải nói được, dùng được trong thực tế, thoát ly khỏi tư duy chạy theo điểm số hay chỉ làm các bài kiểm tra hàn lâm trên lớp.
Đối với các môn chuyên ngành, việc chuyển đổi một số giờ dạy sang Tiếng Anh chắc chắn sẽ gặp những khó khăn nhất định. Nhà trường có giải pháp gì để tháo gỡ vấn đề này, thưa bà?
Thực tế, không phải giáo viên dạy bộ môn nào cũng có thể đảm nhận ngay việc dạy bộ môn đó bằng Tiếng Anh. Để có một giờ học hoàn hảo, bắt buộc phải có sự trợ giúp của giáo viên Tiếng Anh.
Giải pháp của chúng tôi là, giáo viên bộ môn sẽ soạn bài giảng và ngồi lại cùng giáo viên Tiếng Anh để thiết kế giờ học sao cho phù hợp. Về mặt kiến thức chuyên môn, giáo viên bộ môn đóng vai trò nòng cốt; Tiếng Anh chỉ là công cụ hỗ trợ.
Hiện nay, đội ngũ giáo viên trẻ dạy các bộ môn có năng lực Tiếng Anh tốt. Họ tốt nghiệp đại học đã đạt chuẩn B1, B2 nên có thể sử dụng các thuật ngữ, câu từ đơn giản trong giờ học. Tuy nhiên, để giờ học thực sự chuẩn xác và truyền cảm hứng, sự "nối sóng" và trợ giảng trực tiếp của giáo viên Tiếng Anh trong lớp là yếu tố vô cùng quan trọng.
Chúng ta không nên hiểu máy móc việc dùng Tiếng Anh là chuyển thể nguyên văn bài giảng Tiếng Việt sang Tiếng Anh. Làm sao để vừa giúp học sinh hấp thụ ngoại ngữ tự nhiên, vừa nắm chắc kiến thức cốt lõi, thưa bà?
Đúng vậy. Để đạt cả hai mục tiêu, trước hết học sinh phải nắm chắc kiến thức cốt lõi bằng Tiếng Việt. Trong giờ học, giáo viên lồng ghép các thuật ngữ Tiếng Anh tương ứng. Ví dụ: trong môn Toán, giới thiệu các khái niệm như đường trung trực, đường phân giác bằng Tiếng Anh. Việc này giúp học sinh vừa mở rộng vốn từ, vừa tạo sự kích thích tư duy và hứng thú học tập.
Điều quan trọng nhất là tạo môi trường để các em giao tiếp tự tin, không sợ sai ngữ pháp. Nếu chỉ chuyển thể bài dạy một cách máy móc từ đầu đến cuối, các em hoàn toàn có thể dùng các công cụ dịch thuật tự động. Ở đây, cái chúng tôi muốn truyền đạt là sức sống của ngôn ngữ kết hợp với kiến thức bài học, dựa trên sự tương tác chủ động của học sinh.
Thưa bà, hiện tại, nhà trường đã và đang triển khai dạy thí điểm những môn học nào bằng Tiếng Anh?
Hiện tại, nhà trường đang thí điểm ở một số tiết học. Ở môn Giáo dục địa phương, trong 8 chủ đề của chương trình, trường chọn 2 chủ đề phù hợp (như Chủ đề Hà Nội hoặc Khoa học tự nhiên) để dạy bằng Tiếng Anh. Ban đầu thí điểm ở 1 lớp, sau đó mở rộng quy mô lên 3 lớp học chung tại hội trường với 2 giáo viên cùng hỗ trợ/trợ giảng.
Trong học kỳ I, trường triển khai 1 tiết Địa lý lớp 11 (về các tổ chức quốc tế, có nhiều từ viết tắt Tiếng Anh) và 1 bài Lịch sử (về danh nhân văn hóa). Sang học kỳ II, trường sẽ tiếp tục mở rộng các bài dạy phù hợp.
Khi đã tạo được môi trường không lo ngại về sĩ số. Lớp đông nhưng không chỉ có một giáo viên đứng lớp mà có sự hỗ trợ của giáo viên trợ giảng, cùng nguồn tư liệu, học liệu số rất phong phú. Giáo viên đóng vai trò điều phối, còn học sinh là trung tâm, chủ động thực hành nói Tiếng Anh.
Bài giảng được đầu tư công phu như vậy liệu có thể tái sử dụng hoặc nhân rộng cho các trường khác không, thưa bà? Bà đánh giá thế nào về sự phản hồi và mức độ hứng thú của học sinh khi tham gia các giờ học này?
Đây là nguồn học liệu số giá trị. Các trường khác có thể tham khảo và linh hoạt điều chỉnh cho phù hợp với năng lực học sinh vùng/miền mình. Ví dụ: Cùng là bài dạy về làng nghề truyền thống trong môn Giáo dục địa phương, trường ở chương trình chung có thể dạy về làng mây tre đan (Chương Mỹ) hay làng khảm (Thường Tín); còn tại Hà Nội có thể chọn làng gốm Bát Tràng hay làng thêu Quất Động. Sự linh hoạt nằm ở người điều phối lớp học. Tôi tin đây là mô hình hay, cần sự chung tay trí tuệ của các nhà trường để xây dựng bộ giáo án dùng chung.
Cái gì mới và lạ, học sinh đều muốn bắt mắt, bắt tai. Thay vì tiết Giáo dục địa phương bằng Tiếng Việt quen thuộc, nay các em được trải nghiệm bằng Tiếng Anh, được đóng vai như những sứ giả văn hóa giới thiệu về du lịch Hà Nội. Những hoạt động đóng vai, làm bài tập nhóm này tạo cho các em niềm tự hào và thói quen bộc lộ, phát triển kỹ năng khẩu ngữ ngay trong giờ học.
Trân trọng cảm ơn bà!
Từ năm học 2026-2027, Hà Nội thí điểm triển khai Đề án "Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học" tại 20 trường học. Các cơ sở giáo dục trên địa bàn thành phố sẽ triển khai Đề án theo mức độ phù hợp với điều kiện thực tế của từng đơn vị, đồng thời tiếp tục hoàn thiện mô hình, học liệu, đội ngũ và các điều kiện bảo đảm trong quá trình thực hiện. Các cơ sở giáo dục được lựa chọn làm điểm có trách nhiệm hỗ trợ chuyên môn, chia sẻ kinh nghiệm và lan tỏa mô hình trên phạm vi toàn thành phố.