Chuyện về chiến khu thứ 8 thời tiền khởi nghĩa - Bài 1

Có một địa danh được coi như chiến khu “đất thép, thành đồng” miền Kinh Bắc. Mảnh đất ấy có tên là Bừng, đã nuôi dưỡng, che chở cho rất nhiều vị lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước ta sau này.

Có một địa danh được coi như chiến khu “đất thép, thành đồng” miền Kinh Bắc. Mảnh đất ấy có tên là Bừng, đã nuôi dưỡng, che chở cho rất nhiều vị lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước ta sau này. Mảnh đất chiến khu còn ít người biết tới ấy cũng có những trang sử anh dũng cùng nỗi buồn của hiện tại.

Bài 1: Làng nghèo vùng lên

Năm 1945, Thường vụ Trung ương Đảng đã quyết định thành lập 7 chiến khu trong cả nước. Tuy rằng 7 chiến khu này không có cái tên Bừng, nhưng sau khi tham khảo ý kiến của những vị lãnh đạo, cán bộ hoạt động ở Bừng nói riêng và Bắc Giang nói chung trước năm 1945 thì có thể coi Bừng là 1 chiến khu thực sự.

Nơi che chở những chiến sĩ cách mạng ưu tú


Để có những trận đánh anh dũng, quả cảm và thắng lợi trên khắp các vùng rừng núi Bắc Giang, bà Hà Thị Quế đã từng rèn sức, luyện tài và được dân làng Bừng (nay thuộc xã Tân Thanh, Lạng Giang, Bắc Giang) che chở, nuôi dưỡng.

Chuyện về chiến khu thứ 8 thời tiền khởi nghĩa - Bài 1 ảnh 1

Đình Bừng, nơi cán bộ, chiến sĩ dùng để họp báo thời tiền khởi nghĩa.


Nhớ lại những ngày ở Bừng, bà Quế cho biết: “Từ năm 1943, cơ sở in báo Phục Quốc của TW Đảng và Xứ ủy chuyển từ ấp Tam Sơn (Bắc Ninh) lên làng Bừng. Báo Phục Quốc do ban cán sự Đảng bộ tỉnh Bắc Giang cho ra đời nhằm tuyên truyền đường lối của Đảng, kêu gọi quần chúng nổi dậy đấu tranh tiến tới khởi nghĩa. Thời gian hoạt động ở làng Bừng, tôi chính là người trực tiếp in báo Phục Quốc ở nhà ông Chánh Đông, rồi sau đó mang ra Nghè Vườn Hơm phơi, và bí mật phân phát đi các nơi.”


Bà Hà Thị Quế là một trong số những người chiến sĩ Việt Minh ưu tú hoạt động và được dân làng Bừng che chở.


Làng Bừng xưa kia có tên Chuyên Mỹ thuộc tổng Mỹ Thái - Bắc Giang (Tổng - một đơn vị địa lý hành chính do chính quyền thực dân Pháp lập ra). Đường lối, chính sách về cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng và mặt trận Việt Minh đã nhanh chóng lan về làng Chuyên Mỹ. Tiếp chúng tôi trong căn nhà cổ của tổ tiên, ông giáo Hà Văn Cứ, năm nay đã 92 tuổi cho biết: “Khi phong trào cách mạng trong cả nước thời ấy đang sục sôi, trong không khí đó, một số già làng tin tưởng đi theo cách mạng đã quyết định đổi tên Chuyên Mỹ thành làng Bừng, với hàm ý bừng cháy, thắp sáng lên niềm tin, ngọn lửa cách mạng”.


Làng Bừng có một vị thế rất hiểm yếu, 3 mặt giáp với núi. Muốn vào làng chỉ có một con đường duy nhất từ Phủ Lạng Thương (nay là TP Bắc Giang) qua thị trấn Vôi rồi rẽ vào thôn Đông (1 trong 4 thôn của làng Bừng hiện nay). Không những thế, trước đây làng Bừng có những cánh rừng lim bạt ngàn, bao bọc. Đảng và Mặt trận Việt Minh sau khi cử một số người về Bừng hoạt động đã nhận thấy đây là một địa bàn có vị trí thuận lợi để cách mạng có thể phát triển. Bừng cũng là điểm trung chuyển các chiến sĩ cách mạng giữa vùng Cao Bằng, Thái Nguyên (nơi có cơ quan đầu não của Việt Minh) xuống các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, hay khu Đông Triều - Quảng Ninh. Có thể nói Bừng đã có cả thiên thời, địa lợi, nhân hòa để Mặt trận Việt Minh quyết định lập căn cứ địa cách mạng ở đây.


Ông Hoàng Hoa Phẩm và Giáp Văn Oanh là hai người chiến sĩ tham gia cách mạng sớm nhất. Họ là những người con ưu tú nhất ở làng Bừng thời tiền khởi nghĩa. Họ đã giác ngộ lí tưởng của Đảng và sớm đi theo Việt Minh ngay từ ngày đầu thành lập mặt trận. Chính ngôi nhà của họ ở Bừng là nơi đón tiếp, che chở các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Lương Bằng, Lê Thanh Nghị, Lê Quang Đạo, Hà Thị Quế, trung tướng Lư Giang, Ngô Gia Chinh, Ngô Ngọc Dương… Trong khu vườn nhà ông Hoàng Hoa Phẩm có một căn hầm bí mật. Mọi tài liệu, sách báo sau khi được in, phơi đều được cất giấu trong căn hầm này để chờ thời cơ phân phát đi khắp nơi.


Ông giáo Cứ cho hay: “Sau này khi cách mạng đã công khai thì chúng tôi mới biết rằng đã có hàng chục vị cán bộ chủ chốt của tỉnh Bắc Giang, Mặt trận Việt Minh và xứ Ủy đã về Bừng bắt mối, nằm vùng và chiến đấu”. Nghè Vườn Hơm trên đỉnh đồi ở Bừng cũng là nơi bà Hà Thị Quế ẩn náu.


Ông Giáp Văn Hiếu, nay đã 79 tuổi là cháu của ông Giáp Văn Oanh kể lại: “Khi đó tôi mới tầm 8 -10 tuổi, có nhiều người hoạt động cách mạng về nhà cậu tôi bàn việc và ngủ ở đó. Tôi còn nhớ ông Lê Quang Đạo khi thấy tôi gọt khoai đã nói: Chú gọt thật nhiều khoai cho các anh ăn nhé, ở trên rừng các anh cũng chỉ toàn ăn khoai thôi”.


Ngôi đình làng Bừng xưa kia rộng tới hơn 300 m2, khu rừng lim, nghè Vườn Hơm trên đồi, những căn hầm bí mật… đã trở thành nơi những chiến sĩ cách mạng về đây ẩn mình hoạt động.


Đội tự vệ giải phóng quân oai hùng


Trong chuyến tìm về dấu ấn lịch sử của làng Bừng năm xưa, chúng tôi đã rất may mắn được gặp và nghe 4 người còn lại cuối cùng của đội quân du kích 44 người năm xưa kể chuyện. Ông giáo già Nguyễn Khắc Nhượng, 88 tuổi vẫn còn nhớ: Từ năm 1944, khi phong trào cách mạng ở Bừng nói riêng và trên địa bàn tỉnh Bắc Giang nói chung dâng cao, việc hoạt động bí mật đã dần dần chuyển sang công khai. Khi Mặt trận Việt Minh đã được củng cố về mặt tư tưởng và chính trị ở khắp làng quê thì một yêu cầu tất yếu được đặt ra lúc nào phải thành lập các đội tự vệ vũ trang để khi có thời cơ sẽ bạo động giành chính quyền.


Sau khi đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân do Đại tướng Võ Nguyên Giáp thành lập với 34 chiến sĩ ở cánh rừng Trần Hưng Đạo ra đời, thì ở Bừng cũng có một đội quân vũ trang như thế. Ông giáo Nhượng có bản chép tay tên những người trong đội tự vệ vũ trang. Ông kể lại: “Cụ Hoàng Văn Thụ, Ngô Gia Chinh, Nguyễn Thanh Bình, Lê Văn Lương và Lê Thanh Nghị về Bừng hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Nhưng đầu năm 1945, nhận thấy tình hình cách mạng đã có những chuyển biến tích cực, thì các cán bộ cách mạng đã quyết định thành lập ở Bừng một đội tự vệ vũ trang. Để biến những người nông dân thành chiến sĩ thực thụ, họ đã cử đồng chí Lư Giang(*), người con của vùng đất Lục Ngạn - Bắc Giang về chỉ đạo, huấn luyện võ thuật, súng, gươm cho đội tự vệ”.


Bà Nguyễn Thị Cộng, người phụ nữ cuối cùng của đội tự vệ làng Bừng còn sống nhớ lại: “Ngày ấy lúc đầu mấy chị em tôi được các đồng chí Nguyễn Thanh Bình, Lê Thanh Nghị cử đi nấu cơm phục vụ anh em. Một thời gian sau, nhận thấy mấy chị em đều nhanh nhẹn, gan dạ và có thể sử dụng vũ khí nên các đồng chí đã cho chị em vào đội tự vệ làng. Tôi còn nhớ ban ngày bọn tôi cày cấy, làm ăn trên đồng, nhưng cứ buổi tối lại tập trung ở sân nhà cụ Chánh Đông, cụ Oanh hoặc ở ngoài đồi để ông Lư Giang huấn luyện võ thuật, bắn súng”. Ngoài những cái tên nữ giới vừa kể trên, thì đội tự vệ vũ trang làng Bừng còn có trên 30 anh nông dân. Ông Nguyễn Khắc Nhượng, người biết rõ nhất bản danh sách này đã kể cho chúng tôi nghe một vài người tiêu biểu. Đó là các chiến sỹ: Hoàng Hoa Phẩm, Giáp Văn Oanh, Đoàn Thạch, Hoàng Lực, Hoàng Mạnh Đạt, Hà Văn Mai, Giáp Văn Nhân, Hà Văn Cứ, Đường Hùng Kê… Đội tự vệ vũ trang 44 người của làng Bừng đã từng được ví như đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân số 2 được lập sau đội ở Cao Bằng.


Đội tự vệ vũ trang làng Bừng ra đời trong điều kiện vũ khí rất thô sơ và thiếu thốn. Ông Cứ nhớ lại: “Ngày ấy chúng tôi chỉ có vài khẩu súng kíp, mấy khẩu súng lục, còn lại là mã tấu và gươm mà thôi. Nhưng ai ai trong đội cũng tập luyện hăng say vào mỗi đêm. Những bài võ thuật tự vệ và cách tháo súng, bắn súng cũng được ông Lư Giang truyền đạt tỉ mỉ cho nên những phụ nữ trong đội tuy chân yếu tay mềm sau một thời gian huấn luyện cũng đã thành thạo, sử dụng được hết”. Để đội tự vệ hoạt động có quy củ, ông Đoàn Thạch đã được giao chức vụ Trung đội trưởng, Hoàng Mạnh Đạt làm Trung đội phó.


Bài và ảnh: Văn Hải - Nguyễn Hường - Trương Viễn


Bài 2: Những chiến công của đội quân nông dân