Chưa phát hiện rửa tiền trong lĩnh vực bảo hiểm

Bộ Tài chính đã đưa nội dung thanh tra công tác phòng, chống rửa tiền (PCRT) và chống tài trợ khủng bố theo yêu cầu vào đề cương kế hoạch thanh tra các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) nhưng đến nay, chưa phát hiện sai phạm liên quan đến lĩnh vực này.

Các DNBH là đối tượng báo cáo theo quy định của pháp luật PCRT. Tính đến thời điểm hiện tại, cơ quan quản lý Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm chưa tiến hành các cuộc thanh tra độc lập về rửa tiền/tài trợ khủng bố. Tuy nhiên, trong các năm qua, thực hiện quy định tại Điều 39 Luật PCRT, tùy từng trường hợp cụ thể, Bộ Tài chính đã đưa nội dung thanh tra công tác PCRT và chống tài trợ khủng bố theo yêu cầu vào đề cương kế hoạch thanh tra các doanh nghiệp nhưng đến nay chưa phát hiện sai phạm liên quan đến lĩnh vực này.

Ngoài ra, trong quá trình quản lý, giám sát hoạt động của các DNBH, Bộ Tài chính thường xuyên có các công văn yêu cầu các DNBH tuân thủ quy định về phòng, chống rửa tiền.

Thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện có 18 DNBH nhân thọ, cả 18/18 doanh nghiệp đều đã xây dựng, ban hành quy trình quản lý nội bộ về phòng, chống rửa tiền và thường xuyên cập nhật các quy định của pháp luật có liên quan nhằm bảo đảm quy trình quản lý PCRT được thực hiện phù hợp với quy định pháp luật.

Ngoài quy trình PCRT, các DNBH nhân thọ còn ban hành các quy định về nhận biết khách hàng, đánh giá rủi ro khách hàng... trong quy trình khai thác, quy trình thẩm định, phát hành hợp đồng bảo hiểm. Các DNBH nhân thọ cũng đã thành lập các bộ phận riêng và cử cán bộ phụ trách công tác phòng, chống rửa tiền. Hàng năm, phần lớn các doanh nghiệp đều có báo cáo kiểm toán nội bộ về kết quả phòng, chống rửa tiền của doanh nghiệp…

So với lĩnh vực ngân hàng, bất động sản, chứng khoán, thì mức độ tổn thương về rửa tiền trong lĩnh vực bảo hiểm được đánh giá là ở mức thấp. Bảo hiểm ngày càng thể hiện được vai trò, vị trí đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Các doanh nghiệp bảo hiểm là đối tượng báo cáo theo quy định của pháp luật PCRT.
Trên thực tế đây vẫn là lĩnh vực chiếm tỷ trọng nhỏ trên thị trường tài chính Việt Nam. Năm 2020, thị trường bảo hiểm Việt Nam được dự báo tiếp tục giữ vững “phong độ” tăng trưởng trên 20%. Xét trong ngắn hạn, khảo sát các doanh nghiệp bảo hiểm do Vietnam Report thực hiện tháng 6/2020 chỉ ra có đến 90,5% số doanh nghiệp lạc quan về triển vọng toàn ngành bảo hiểm trong 6 tháng cuối năm 2020. Theo đó, bảo hiểm ngày càng thể hiện được vai trò, vị trí đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.

Hiện các DNBH nhân thọ cung cấp 9 nhóm sản phẩm, gồm:

(1) Nhóm sản phẩm bảo hiểm nhân thọ đóng phí một lần (cá nhân);

(2) Nhóm sản phẩm bảo hiểm nhân thọ thuần túy – không kể đóng phí một lần (cá nhân);

(3) Nhóm sản phẩm bảo hiểm nhân thọ có giá trị tiền mặt và yếu tố đầu tư, tiết kiệm – không kể đóng phí một lần (cá nhân);

(4) Nhóm sản phẩm khác có giá trị tiền mặt và yếu tố đầu tư, tiết kiệm – không kể đóng phí một lần (cá nhân);

(5) Nhóm sản phẩm hưu trí (cá nhân);

(6) Nhóm sản phẩm bảo hiểm nhân thọ đóng phí một lần (nhóm);

(7) Nhóm sản phẩm bảo hiểm nhân thọ thuần túy – không kể đóng phí một lần (nhóm);

(8) Nhóm sản phẩm bảo hiểm nhân thọ có giá trị tiền mặt và yếu tố đầu tư, tiết kiệm – không kể đóng phí một lần (nhóm);

(9) Nhóm sản phẩm khác có giá trị tiền mặt và yếu tố đầu tư, tiết kiệm – không kể đóng phí một lần (nhóm).

Theo Báo cáo đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền và tài trợ khủng bố, trong số 9 nhóm sản phẩm nêu trên của các DNBH nhân thọ, sản phẩm chủ yếu thuộc nhóm (2) và (3). Sản phẩm thuộc nhóm (1) chiếm tỷ trọng rất thấp, chỉ có một số DNBH nhân thọ triển khai và tỷ lệ doanh thu phí chỉ chiếm khoảng 0,02% đến 5%. Chỉ có 1 DNBH nhân thọ có tỷ lệ doanh thu phí đóng 1 lần có tỷ lệ cao là Prevoir với tỷ lệ 34,002%.

Những yếu tố góp phần làm giảm tính dễ tổn thương của các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ bao gồm:

Thứ nhất, phần lớn các DNBH nhân thọ không tiến hành thanh toán bảo hiểm cho bên thứ 3, chỉ một số ít DNBH thanh toán cho bên thứ 3 là người thụ hưởng hoặc người thừa kế của hợp đồng bảo hiểm;

Thứ hai, các DNBH nhân thọ đều không tiến hành thanh toán bảo hiểm qua biên giới;

Thứ ba, số lượng khách hàng có quốc tịch nước ngoài hoặc có ảnh hưởng chính trị (trong nước, quốc tế) của các DNBH nhân thọ chiếm tỷ trọng rất thấp;

Thứ tư, phương thức đóng phí của các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ hiện nay đang được sử dụng gồm: Qua đại lý, qua ngân hàng, thu phí trực tiếp, từ đó giảm thiểu việc chiếm dụng phí của đại lý cũng như các rủi ro khác liên quan đến thu phí bảo hiểm bằng tiền mặt.

Tính đến 31/12/2019, thị trường bảo hiểm có 66 doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm (trong đó có 30 DNBH phi nhân thọ, 18 DNBH nhân thọ, 2 doanh nghiệp tái bảo hiểm và 16 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm) và 01 chi nhánh DNBH phi nhân thọ nước ngoài.
M.Phương/Báo Tin tức (tổng hợp)

Dành cho bạn

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài cuối: Những tuyến đường đến các cực tăng trưởng mới

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài cuối: Những tuyến đường đến các cực tăng trưởng mới

Cao tốc, sân bay và cảng biển tạo lợi thế tiếp cận, nhưng dòng vốn chỉ ở lại nơi có đất sạch, điện, nước, nhân lực, môi trường và thủ tục đủ tin cậy. Từ Vân Phong, Nhơn Hội, Buôn Ma Thuột đến Liên Chiểu và các đô thị dọc cao tốc Lâm Đồng, miền Trung - Tây Nguyên đang hình thành nhiều điểm hội tụ mới. Thách thức là biến các dự án riêng lẻ thành hệ sinh thái và phân chia lợi ích liên vùng.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa

Hạ tầng có thể rút ngắn một chuyến xe, nhưng chưa chắc nâng giá trị một tấn nông sản. Giá trị chỉ tăng khi vùng nguyên liệu được số hóa, sản phẩm được bảo quản, chế biến, kiểm định và bán bằng thương hiệu của mình. Từ cà phê, sầu riêng ở Đắk Lắk, rau hoa và trái cây Lâm Đồng đến dữ liệu di sản Huế, chuỗi giá trị mới đang đòi hỏi hạ tầng rộng hơn đường sá: hạ tầng số, tiêu chuẩn và năng lực sáng tạo.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 2: Để cảng biển không thành 'đảo hạ tầng'

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 2: Để cảng biển không thành 'đảo hạ tầng'

Miền Trung có chuỗi cảng nước sâu trải dọc bờ biển, còn phía Tây là vùng sản xuất rộng lớn nối sang Lào và Campuchia nhưng một cầu cảng lớn không mặc nhiên có nguồn hàng, cũng như một tuyến cao tốc chưa chắc tạo nên hành lang kinh tế. Cuộc cạnh tranh mới nằm ở năng lực tổ chức hậu phương cảng, vận tải đa phương thức và hệ sinh thái dịch vụ giữ hàng hóa ở lại lâu hơn.