Buổi trưa những ngày cuối năm, tôi men theo quốc lộ 1A đoạn qua thị trấn Nam Phước, theo đường liên xã đi về phía biển, trên sông Ly Ly thuộc xã Duy Thành, huyện Duy Xuyên (Quảng Nam) hỏi thăm làng Hến thôn An Lạc, một trong những làng nghề truyền thống của miền sông nước Duy Xuyên còn tồn tại đến ngày nay.
Bến sông còn lại làng nghề
Buổi trưa, làng hến vắng người, chỉ có mấy chú vịt chao mình trên mặt nước. Bên bến sông, một chị phụ nữ chừng 35 tuổi vẫn ngồi cặm cụi bên mẻ hến, cố đãi cho được những con hến cuối cùng bằng đôi bàn tay trần ngâm trong nước nóng. Chị cho biết: “Nghề hến xuất hiện ở thôn An Lạc này lâu lắm rồi. Một thời gian cả làng nghỉ nghề do chiến tranh, sau hòa bình mới làm lại. Mấy ông già của làng từ nhỏ đã lội sông cào hến như ông Đính, ông Quyến (đã qua đời rồi). Thời chúng tôi cũng làm nghề cào hến.
Xóm hến bên sông xơ xác. |
Sau lưng người phụ nữ, một đoạn bãi sông Ly Ly trải đầy vỏ hến, chứng tích cuộc mưu sinh nhọc nhằn dầm mình trên nắng, dưới nước của những thế hệ người dân nơi đây. Mấy chiếc ảng to dùng để chao hến nằm chơ vơ cạnh những đống vỏ hến. Đôi tay chị thoăn thoắt chao nước, lọc sạch vỏ hến, gạn để lấy những phần thịt hến ngả màu trắng vàng, là chút tinh túy của đời con hến. Một người đàn ông chừng hơn 50 tuổi thấy khách lạ cũng từ trong nhà bước ra tiếp chuyện. Thấy tôi hỏi về nghề cào hến của làng, ông thủng thẳng kể rằng, ngày trước làng ông sống được là nhờ con hến. Chẳng biết có phải vì dòng sông này yên bình hay không mà hến ở đây nhiều đến thế, cào quanh năm không hết. Chỉ cần mang cào ra, sau một lát là có đầy một thúng hến. Người trong làng cũng vì thế mà chẳng khi nào phải đói.
Những chiếc lưới cào được xếp gọn lại vì không còn hến để cào. |
“Cái cào làm bằng tre. Cái “lưới” để giữ hến, gọi là rẽ lường, làm bằng nan tre vót nhỏ. Cào bề ngang khoảng 80cm, người có sức thì làm cào lớn hơn. Cào tre để trên cạn thì khô, thả xuống nước lại nổi, nên mỗi lần găm xuống đáy sông rất cực. Giờ đây cào được thay bằng sắt, thả cào xuống nước nhẹ hơn xưa nhiều. Có điều, lội xuống sông, nước có khi đến ngang vai, có khi chỉ lúp xúp trên dưới đầu gối.
Trong cái chòi nhỏ lợp lá dừa, bên cái lò nấu hến chưa kịp tàn tro, chị Vũ Thị Hồng sắp lại mấy cân hến và nước hến vào chiếc giỏ xách ni lông, chuẩn bị mang ra chợ bán. Hỏi chị sao mang bán ít thế, chị trầm ngâm một lúc rồi chép miệng: “Còn đâu mà cào nữa chú! Được chừng ni mỗi ngày là mừng lắm rồi! Chắc cũng đến bỏ cào mất thôi! Sống đâu được với ghe cào này nữa mô chú...!”.
Nhọc nhằn đời hến cuối đông
Người đàn bà đã mang số hến ít ỏi kiếm được trong ngày ra chợ. Người đàn ông tên Nguyễn Văn Tư (1962) kéo tôi lại: “Ngày trước, cả làng đều đi cào hến. Nhưng hiện giờ chỉ còn 12 hộ chuyên nghề cào hến, một số làm thêm nghề nông, chứ bu không nghề hến ni là thả tay đói dài chú ơi! Trời lặng đi cào được, chứ chuyển trời một chút là hến rúc xuống sâu trong cát, không làm ăn chi được!”. Nói rồi, ông kéo chiếc cào xuống sát mé sông, sửa lại cái nịt cào để chuẩn bị cho buổi cào hến. Ông bảo đi cào, nửa đêm hay nửa trưa, sớm hay muộn tùy theo con nước, nước cạn giờ nào thì đi giờ đó. Nước lớn, hến nó trốn sâu xuống dưới cát là chịu không cào được. Gần đây, có một số người dùng ghe máy, nước sâu mấy cũng cào được. “... nhưng mình cào thủ công, sâu lắm cũng chỉ phả vai. Lút đầu thì mùa hè còn ráng được, chứ trời lạnh như ri thì không chịu nổi!”, ông Tư than thở.
Chị Liễu với chút hến mang ra chợ bán. |
Người phụ nữ cặm cụi bên mẻ hến trên bến sông cũng góp thêm câu chuyện bằng giọng nghẹn ngào: “Qua đầu tháng Chạp là hết hến, tới đầu tháng ba mới lại có mùa hến. Hến đầu mùa còn nhỏ, dần dần mới lớn lên, nhưng thỉnh thoảng cũng cào được loại hến to còn sót lại từ năm trước. Hết hến thì làm thuê, ai kêu chi làm nấy. Chị kể, ngày trước cái ruột cũng bán, cái vỏ cũng bán, cái tro cũng có tiền. Còn giờ thì hết rồi! Mỗi ngày đi cào khoảng 5 tiếng đồng hồ, về nấu được một chảo, được chừng 3kg ruột hến, bán được 25.000 đồng/kg, vị chi cả thảy 75.000 đồng. Trong đó còn công của phụ nữ nấu, đãi, rồi tiền củi lửa nữa... Vỏ hến bán cho người ta về nung vôi, nhưng một gánh nặng đầy mà bữa nay chỉ 5.500 đồng thì cũng chẳng bõ bèn gì. Tro, ngày trước có nhiều vì nấu bằng rơm, lá tre, lá dương liễu... Nông dân các xã lân cận thường mua tro nấu hến về bón khoai lang hoặc rải lên cải để giữ ấm mùa đông, còn giờ thì có thiếu gì đâu.
Tôi từng đến Cồn Hến bên dòng sông Trường Giang, thuộc TP Tam Kỳ, cũng đã về xóm Hến ở thôn Đông Hòa, xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng nhưng đều thấy quanh đi quẩn lại thì nghề cào hến vẫn chỉ là cái nghề qua ngày. Mấy năm trước, lo cái ăn xong còn thừa chút ít mua sắm cho gia đình, lo việc họ hàng, nhưng quanh năm suốt tháng rồi cũng quay về chỗ cũ. “Khá lên từ con hến này răng được! Xẩm sờ qua ngày là may rồi, anh mô tằn tiện lắm mới làm được cái nhà để có chỗ vô ra che mưa tránh nắng là giỏi lắm rồi chú ơi!”, chị phụ nữ nói thêm vào.
Ông Tư dừng chiếc cào, nhìn miên man ra khúc sông Ly Ly trong tiết trời đông, con sông từ Hương An chảy ra, nhập với sông Thu Bồn dưới Duy Vinh, giọng chùng xuống như nói với chính mình: “Nghề ni cực lắm, nhưng vì miếng cơm hằng ngày nên phải làm. Chỉ đàn ông mới đi cào thôi, nhưng có khỏe chi thì lội riết một chặp năm, sáu vòng là cẳng giò muốn đớ rồi. Trời lạnh như ri dễ bị chuột rút lắm! Mấy hồ nuôi tôm phía trên kia đúng ra là phải để cho con hến có chỗ sinh sôi, nhưng họ có vốn thì họ đầu tư làm hồ. Một hồ 50 - 60 triệu đồng thì mình tiền mô mà làm, đành phải dầm mình trên nắng dưới nước kiếm cái ăn qua ngày thôi!”, giọng ông Tư đượm buồn. Sông Thu Bồn từ Cẩm Hà, Hội An, ngược lên thượng nguồn mấy năm trước hến nhiều không biết làm chi cho hết. Nhưng mấy năm trở lại đây, hến bỏ đi biệt tăm. Hỏi răng nghề hến không bế tắc cho được?!
Nhưng có lẽ còn có điều chi trong đó, mà đến nay giữa thời buổi kinh tế thị trường đầy gian nan này vẫn còn giữ được. Hỏi ông Tư, ông cười: “Cũng một phần do không còn nghề nào khác, một phần muốn níu giữ cái nghề của cha ông. Cào được hến về, cả nhà lại xúm xít ngâm, lóng, đãi, luộc... rồi còn chia nhau đi bán quanh làng. Chỉ cần nghe tiếng rao nơi đường làng, chạy ra mua 1.000 - 2.000 nghìn đồng hến là đã nấu được bữa canh, thêm ít nữa là có món cháo, món hến xào để cùng nhau nhâm nhi chén rượu nhạt cũng thú lắm chú ạ!”. Có lẽ vậy, dẫu đời hến còn nhiều khốn khó, nhưng vẫn còn chút nét đẹp nhân gian giữa thôn xóm yên bình, như cái tên của làng bao nhiêu năm qua vẫn yên vui là thế!
Bùi Hữu Cường