Cần cơ chế đặc thù cho cao tốc Bắc Nam

Theo lãnh đạo Bộ Giao thông vận tải (GTVT), dự án cao tốc Bắc Nam phía Đông giai đoạn 2021 - 2025 cần có cơ chế đặc thù, nhất là chỉ định thầu tư vấn, xây lắp, nếu không sẽ mất nhiều thời gian để hoàn thành.

Cân nhắc kỹ lưỡng mức thu phí

Theo Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thể, sau khi các dự án thành phần cao tốc Bắc Nam giai đoạn 2021 - 2025 hoàn thành, sẽ đồng loạt thu phí để thu hồi vốn Nhà nước thông qua hình thức chuyển nhượng quyền thu phí trong một thời hạn 3 năm, 5 năm hoặc 10 năm.

Mức thu phí sẽ được tính toán, cân nhắc kỹ lưỡng trên cơ sở quy định pháp luật. Chính phủ đã chỉ đạo Bộ GTVT phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng phương án thu phí đối với các tuyến đường bộ cao tốc trọng điểm đầu tư bằng nguồn ngân sách Nhà nước này để thu hồi vốn đầu tư, quản lý vận hành và điều tiết giao thông. Các cơ quan của Chính phủ đang khẩn trương hoàn thiện Đề án thu phí trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét thông qua, làm cơ sở triển khai.

Tính toán sơ bộ của Bộ GTVT cho thấy, nếu thu phí toàn bộ 12 dự án thành phần trong 5 năm đầu có thể thu hồi khoảng 18.300 tỷ đồng vốn Nhà nước, trong 10 năm khoảng 37.881 tỷ đồng. Nếu thu phí 8 dự án thành phần (không thu phí 3 dự án đi trùng và nâng cấp một số đoạn đường Hồ Chí Minh hiện hữu), trong 5 năm đầu có thể thu hồi khoảng 14.800 tỷ đồng vốn Nhà nước, trong 10 năm khoảng 30.000 tỷ đồng.

Chú thích ảnh
Cần cơ chế đặc thù cho cao tốc Bắc Nam.

Mức phí dịch vụ sẽ được các cơ quan Chính phủ tính toán, cân nhắc kỹ lưỡng, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước - doanh nghiệp - người sử dụng dịch vụ và hạn chế tác động, điều tiết lưu lượng giao thông phù hợp với năng lực khai thác giữa các tuyến đường song hành. Trường hợp nhượng quyền thu phí không thành công, Bộ GTVT sẽ nghiên cứu áp dụng hình thức thuê dịch vụ thu phí từ các nhà cung cấp hiện nay đang triển khai như VETC, VDTC (Vietel)... để thu hồi vốn Nhà nước.

Qua tìm hiểu, các tuyến cao tốc Bắc Nam sẽ được triển khai liên dịch vụ thu phí thông trên toàn bộ 12 dự án giai đoạn 2021 - 2025 và các dự án giai đoạn 2017 - 2020, áp dụng hình thức thu phí điện tử tự động không dừng, bố trí trạm tại các điểm ra, vào đường cao tốc, thu phí theo số km thực tế sử dụng. Việc đưa hệ thống thu phí điện tử không dừng (112 trạm trên toàn quốc) vào hoạt động đã góp phần hiện đại hóa cơ sở hạ tầng giao thông, bước đầu tạo được sự thuận tiện, niềm tin cho người sử dụng dịch vụ, số lượng các phương tiện dán thẻ và tham gia dịch vụ không dừng ngày càng tăng cao (khoảng hơn 2 triệu phương tiện đã dán thẻ để tham gia dịch vụ), doanh thu thu phí ETC tại các trạm tăng từ 19% trong quý I/2021 lên đến 40% trong quý IV/2021.

Tuy nhiên, thực tế, do hệ thống thu phí điện tử không dừng lần đầu tiên được triển khai tại Việt Nam, việc quản lý vận hành hệ thống liên quan đến nhiều đối tượng (cơ quan có thẩm quyền, ngân hàng, nhà đầu tư BOT, nhà cung cấp dịch vụ, chủ phương tiện giao thông...), nên trong quá trình vận hành hệ thống vẫn bộc lộ nhiều bất cập, gây bức xúc cho lái xe và doanh nghiệp vận tải. Để khắc phục, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ GTVT khẩn trương khắc phục triệt để các tồn tại nảy sinh trong quá trình vận hành hệ thống thu phí điện tử không dừng, bảo đảm thuận tiện nhất cho phương tiện giao thông; tổ chức tuyên truyền, vận động; cải thiện, đa dạng hóa hình thức nạp tiền, trả tiền để thuận tiện cho người sử dụng.

Đảm bảo đu vật liệu xây dựng cao tốc

Liên quan đến nguồn vật liệu phục vụ thi công cao tốc Bắc Nam giai đoạn 202 -2025, kết quả nghiên cứu tiền khả thi dự án của Bộ GTVT cho thấy, nhu cầu về vật liệu đắp đối với dự án cần khoảng 32 triệu m3; trong đó, các dự án thành phần đoạn qua khu vực miền Trung (đoạn Bãi Vọt - Cam Lộ và đoạn Quảng Ngãi - Nha Trang) cơ bản có thể đáp ứng; đối với đoạn Cần Thơ - Cà Mau, nguồn cung về đất đắp rất khan hiếm, nên phải thay thế đắp nền bằng cát.

Rút kinh nghiệm quá trình triển khai các dự án giai đoạn 2017 - 2020, trong bước nghiên cứu khả thi, Bộ GTVT tính toán xác định cụ thể nhu cầu vật liệu đối với từng dự án, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương đánh giá kỹ tình trạng các mỏ đang khai thác, kịp thời triển khai các thủ tục điều chỉnh quy hoạch mỏ, quy hoạch sử dụng vật liệu và cấp phép các mỏ mới theo đúng quy định để đảm bảo mục tiêu xây dựng đề ra.

Bên cạnh đó, Chính phủ sẽ có cơ chế, giải pháp quản lý chặt chẽ về giá vật liệu xây dựng, xử lý nghiêm các tình trạng đầu cơ, nâng giá, gây khó khăn trong triển khai đầu tư các dự án, bảo đảm không xảy ra tình trạng khan hiếm vật liệu, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai các dự án.

Về tổng mức đầu tư các dự án cao tốc Bắc Nam giai đoạn 2021 - 2025 khoảng 146.990 tỷ đồng, Bộ GTVT đã tính toán chiều dài từng cầu, hầm, kể cả địa chất, thủy văn... làm cơ sở thuê tư vấn lập dự án, xác định cụ thể hướng tuyến đầu tư; đảm bảo sau khi phê duyệt thiết kế kỹ thuật dự toán, mới chỉ định thầu và đấu thầu.

"Vì vậy, dự án cần cơ chế đặc thù, nhất là chỉ định thầu tư vấn, chỉ định thầu xây lắp, hạn chế kéo dài thời gian thi công. Nếu được Quốc hội thông qua, mỗi bước đấu thầu sẽ rút ngắn khoảng 2 tháng và tiết kiệm ít nhất 6 - 9 tháng xây dựng. Riêng công tác chỉ định thầu, đảm bảo công khai, minh bạch và Chính phủ cũng đã dự kiến thành lập hội đồng liên bộ để xét tuyển", Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể cho hay.

Đăng Sơn/Báo Tin tức

Dành cho bạn

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài cuối: Những tuyến đường đến các cực tăng trưởng mới

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài cuối: Những tuyến đường đến các cực tăng trưởng mới

Cao tốc, sân bay và cảng biển tạo lợi thế tiếp cận, nhưng dòng vốn chỉ ở lại nơi có đất sạch, điện, nước, nhân lực, môi trường và thủ tục đủ tin cậy. Từ Vân Phong, Nhơn Hội, Buôn Ma Thuột đến Liên Chiểu và các đô thị dọc cao tốc Lâm Đồng, miền Trung - Tây Nguyên đang hình thành nhiều điểm hội tụ mới. Thách thức là biến các dự án riêng lẻ thành hệ sinh thái và phân chia lợi ích liên vùng.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa

Hạ tầng có thể rút ngắn một chuyến xe, nhưng chưa chắc nâng giá trị một tấn nông sản. Giá trị chỉ tăng khi vùng nguyên liệu được số hóa, sản phẩm được bảo quản, chế biến, kiểm định và bán bằng thương hiệu của mình. Từ cà phê, sầu riêng ở Đắk Lắk, rau hoa và trái cây Lâm Đồng đến dữ liệu di sản Huế, chuỗi giá trị mới đang đòi hỏi hạ tầng rộng hơn đường sá: hạ tầng số, tiêu chuẩn và năng lực sáng tạo.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 2: Để cảng biển không thành 'đảo hạ tầng'

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 2: Để cảng biển không thành 'đảo hạ tầng'

Miền Trung có chuỗi cảng nước sâu trải dọc bờ biển, còn phía Tây là vùng sản xuất rộng lớn nối sang Lào và Campuchia nhưng một cầu cảng lớn không mặc nhiên có nguồn hàng, cũng như một tuyến cao tốc chưa chắc tạo nên hành lang kinh tế. Cuộc cạnh tranh mới nằm ở năng lực tổ chức hậu phương cảng, vận tải đa phương thức và hệ sinh thái dịch vụ giữ hàng hóa ở lại lâu hơn.