Bảo đảm an ninh mạng trong phát triển tài sản số

Trong bối cảnh tài sản số và kinh tế số đang phát triển nhanh, yêu cầu bảo đảm an ninh mạng và bảo mật ngày càng trở thành yếu tố then chốt nhằm bảo vệ nhà đầu tư và duy trì niềm tin thị trường.
Chú thích ảnh
Tiến sĩ Trần Quý, Viện trưởng Viện Phát triển Kinh tế số Việt Nam chia sẻ tại hội thảo. 

Đây là nội dung được các chuyên gia nhấn mạnh tại hội thảo Kỷ nguyên tài sản số: Hành lang pháp lý và an ninh mạng 2026, do Viện Phát triển Kinh tế số Việt Nam, Trung tâm Khởi nghiệp Sáng tạo thuộc Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh cùng một số đơn vị phối hợp tổ chức ngày 8/2. 

Một trong những nội dung được quan tâm tại hội thảo là việc hệ thống các quy định pháp luật mới liên quan đến tài sản số bắt đầu được áp dụng từ năm 2026, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển thị trường tài sản số tại Việt Nam, góp phần hình thành môi trường đầu tư minh bạch hơn và bền vững hơn.

Ông Trần Quý, Viện trưởng Viện Phát triển Kinh tế số Việt Nam cho biết, kinh tế số chiếm khoảng 22% trong GDP toàn cầu, trong đó các quốc gia Đông Nam Á đang nổi lên như khu vực dẫn đầu nhờ khả năng khắc phục những hạn chế hạ tầng tài chính truyền thống. Dự kiến đến cuối năm 2026, quy mô kinh tế số Việt Nam có thể đạt khoảng 50 tỷ USD. 

Chú thích ảnh
Quang cảnh hội thảo.

Tại Việt Nam, nền tảng pháp lý cho lĩnh vực này ngày càng được hoàn thiện theo hướng đồng bộ; trong đó, có thể kể đến 4 trụ cột chính sách lớn, gồm: Luật Công nghiệp Công nghệ số có hiệu lực từ 1/1/2026; trong đó, công nhận tài sản số; cơ chế sandbox được triển khai theo Nghị định 94/2025/NĐ-CP (quy định về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng); hình thành Trung tâm Tài chính quốc tế tại TP. Hồ Chí Minh với các chính sách ưu đãi nhằm thu hút nguồn lực; tăng cường minh bạch hóa nghĩa vụ tài chính và thuế.

Theo ông Trần Quý, khó khăn và thách thức lớn nhất hiện nay là sự thay đổi thói quen và tư duy của các chủ thể tham gia thị trường. Trên cơ sở đó, ông khuyến nghị doanh nghiệp chủ động tận dụng cơ chế sandbox để thử nghiệm các mô hình kinh doanh và chuyển đổi số gắn với tài sản thực (RWA); trong khi đó, nhà đầu tư cần thay đổi tư duy, từ bỏ “đầu cơ lướt sóng”, hướng tới đầu tư giá trị dài hạn. Đặc biệt, để thúc đẩy sự phát triển bền vững của kinh tế số Việt Nam, cần có sự gắn kết và phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước - Nhà trường - Nhà đầu tư - Doanh nghiệp. Bên cạnh đó, ông cũng đề xuất sáng kiến thành lập Hiệp hội Kinh tế On-chain Việt Nam, nhằm kết nối cộng đồng và thúc đẩy sự phát triển minh bạch của thị trường. 

Chú thích ảnh
Chú thích ảnh
Chuyên gia chia sẻ tại hội thảo.

Theo các chuyên gia, khả năng tạo lập tài sản số hiện nay không còn giới hạn ở các doanh nghiệp lớn, mà ngay cả cá nhân cũng có thể tạo tài sản số từ giá trị thực của mình, hoặc các doanh nghiệp, mô hình kinh doanh truyền thống số hoá để tham gia vào nền kinh tế số. Tuy nhiên, song hành với cơ hội là những rủi ro ngày càng gia tăng về an ninh mạng và bảo mật tài sản số.

Ông Võ Đỗ Thắng, Giám đốc Trung tâm đào tạo quản trị và an ninh mạng ATHENA cho rằng, rủi ro mất tài sản số có thể gia tăng khi các hoạt động số hóa diễn ra mạnh mẽ. Vì vậy, việc nâng cao nhận thức và trang bị kiến thức cơ bản về an ninh mạng cho cá nhân, doanh nghiệp và nhà đầu tư là yêu cầu cấp thiết nhằm hạn chế rủi ro và bảo đảm an toàn cho các giao dịch trong môi trường số.

Ở góc độ nguồn nhân lực, bà Đỗ Thị Hồng Hà, Phó trưởng khoa Khoa Kinh doanh, Trường Đại học Hoa Sen cho rằng, các cơ sở giáo dục đại học giữ vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị lực lượng lao động đáp ứng yêu cầu mới của thị trường. Việc gắn kết chương trình đào tạo với thực tiễn, cập nhật các xu hướng công nghệ và tài chính số sẽ giúp sinh viên có nền tảng vững chắc hơn khi tham gia vào hệ sinh thái kinh tế số. Theo đó, nhà trường đã triển khai đào tạo ngành Fintech là một ngành học chính thức thay vì chỉ là môn học, tập trung vào các trụ cột gồm trí tuệ nhân tạo, blockchain, an ninh mạng và dữ liệu. Triết lý đào tạo cũng được chuyển từ yêu cầu “biết làm” sang “làm có trách nhiệm” và tuân thủ pháp lý.

Thu Hoài (TTXVN)

Dành cho bạn

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài cuối: Những tuyến đường đến các cực tăng trưởng mới

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài cuối: Những tuyến đường đến các cực tăng trưởng mới

Cao tốc, sân bay và cảng biển tạo lợi thế tiếp cận, nhưng dòng vốn chỉ ở lại nơi có đất sạch, điện, nước, nhân lực, môi trường và thủ tục đủ tin cậy. Từ Vân Phong, Nhơn Hội, Buôn Ma Thuột đến Liên Chiểu và các đô thị dọc cao tốc Lâm Đồng, miền Trung - Tây Nguyên đang hình thành nhiều điểm hội tụ mới. Thách thức là biến các dự án riêng lẻ thành hệ sinh thái và phân chia lợi ích liên vùng.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa

Hạ tầng có thể rút ngắn một chuyến xe, nhưng chưa chắc nâng giá trị một tấn nông sản. Giá trị chỉ tăng khi vùng nguyên liệu được số hóa, sản phẩm được bảo quản, chế biến, kiểm định và bán bằng thương hiệu của mình. Từ cà phê, sầu riêng ở Đắk Lắk, rau hoa và trái cây Lâm Đồng đến dữ liệu di sản Huế, chuỗi giá trị mới đang đòi hỏi hạ tầng rộng hơn đường sá: hạ tầng số, tiêu chuẩn và năng lực sáng tạo.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 2: Để cảng biển không thành 'đảo hạ tầng'

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 2: Để cảng biển không thành 'đảo hạ tầng'

Miền Trung có chuỗi cảng nước sâu trải dọc bờ biển, còn phía Tây là vùng sản xuất rộng lớn nối sang Lào và Campuchia nhưng một cầu cảng lớn không mặc nhiên có nguồn hàng, cũng như một tuyến cao tốc chưa chắc tạo nên hành lang kinh tế. Cuộc cạnh tranh mới nằm ở năng lực tổ chức hậu phương cảng, vận tải đa phương thức và hệ sinh thái dịch vụ giữ hàng hóa ở lại lâu hơn.