Vốn FDI đổ vào ASEAN đạt mức kỷ lục 155 tỷ USD

Theo báo cáo đầu tư ASEAN 2019 được Ban Thư ký Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) công bố ngày 3/11, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào ASEAN đã tăng năm thứ ba liên tiếp, đạt mức kỷ lục 155 tỷ USD trong năm 2018, so với mức 147 tỷ USD năm trước đó.
Chú thích ảnh
Hoạt động sản xuất sản phẩm may mặc tại Công ty TNHH May Nien Hsing, Khu công nghiệp Khánh Phú, xã Khánh Phú, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình, Việt Nam. Ảnh: Minh Đức/TTXVN

Phóng viên TTXVN tại Jakarta dẫn báo cáo trên cho biết tỷ lệ của ASEAN trong tổng lượng FDI toàn cầu cũng tăng từ 9,6% năm 2017 lên 11,5% năm ngoái. Xu hướng này dự báo sẽ tiếp tục nhờ sự phát triển công nghiệp năng động, cũng như sự cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh trong khu vực.

Theo báo cáo trên, dịch vụ là lĩnh vực nhận vốn FDI lớn nhất trong ASEAN. Cùng chung xu hướng toàn cầu, tỷ trọng của ngành dịch vụ trong tổng lượng FDI của ASEAN đã tăng từ 50% trong giai đoạn 1999-2003 lên 66% trong giai đoạn 2014-2018. Con số này cao hơn cả tỷ trọng ngành dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Phần lớn vốn FDI trong ngành dịch vụ được đổ vào dịch vụ tài chính, bán sỉ và bán lẻ, và bất động sản.

Báo cáo đầu tư ASEAN 2019 tập trung vào FDI trong lĩnh vực dịch vụ, đặc biệt là ngành chăm sóc sức khỏe. Báo cáo phân tích tình hình FDI, các tập đoàn lớn và các công ty khởi nghiệp (start-up) trong ngành chăm sóc sức khỏe.

Theo đó, ASEAN đang tăng cường hợp tác khu vực trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe thông qua việc triển khai một số thỏa thuận và kế hoạch hành động chiến lược. Các nỗ lực nhằm mở cửa thị trường cho các nhà đầu tư tư nhân và cải thiện môi trường đầu tư cho lĩnh vực này cũng đang tiến triển tốt.

Báo cáo đầu tư ASEAN được thực hiện theo thỏa thuận hợp tác kỹ thuật giữa Ban Thư ký ASEAN và Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) với các thông tin từ các thành viên thông qua Ủy ban điều phối ASEAN về đầu tư (CCI) và được Chương trình hợp tác phát triển ASEAN - Australia giai đoạn II (AADCP II) hỗ trợ.

Hữu Chiến (TTXVN)

Dành cho bạn

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa

Hạ tầng có thể rút ngắn một chuyến xe, nhưng chưa chắc nâng giá trị một tấn nông sản. Giá trị chỉ tăng khi vùng nguyên liệu được số hóa, sản phẩm được bảo quản, chế biến, kiểm định và bán bằng thương hiệu của mình. Từ cà phê, sầu riêng ở Đắk Lắk, rau hoa và trái cây Lâm Đồng đến dữ liệu di sản Huế, chuỗi giá trị mới đang đòi hỏi hạ tầng rộng hơn đường sá: hạ tầng số, tiêu chuẩn và năng lực sáng tạo.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 2: Để cảng biển không thành 'đảo hạ tầng'

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 2: Để cảng biển không thành 'đảo hạ tầng'

Miền Trung có chuỗi cảng nước sâu trải dọc bờ biển, còn phía Tây là vùng sản xuất rộng lớn nối sang Lào và Campuchia nhưng một cầu cảng lớn không mặc nhiên có nguồn hàng, cũng như một tuyến cao tốc chưa chắc tạo nên hành lang kinh tế. Cuộc cạnh tranh mới nằm ở năng lực tổ chức hậu phương cảng, vận tải đa phương thức và hệ sinh thái dịch vụ giữ hàng hóa ở lại lâu hơn.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 1: Mở đường không gian cao nguyên - biển

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 1: Mở đường không gian cao nguyên - biển

Từ những tuyến cao tốc vượt Trường Sơn đến các cảng nước sâu hướng ra tuyến hàng hải quốc tế, một mạng kết nối mới đang hình thành ở miền Trung - Tây Nguyên. Tuy nhiên, những con đường chỉ thực sự tạo động lực tăng trưởng khi kết nối được vùng nguyên liệu, khu công nghiệp, trung tâm logistics, đô thị và thị trường; khi các địa phương cùng tổ chức dòng hàng và chuỗi giá trị thay vì đầu tư từng công trình riêng lẻ.