Đại biểu Trần Hoàng Ngân (Đoàn TP Hồ Chí Minh): Thể chế hóa các nghị quyết của Bộ Chính trị trong dự thảo Luật
Đại biểu Trần Hoàng Ngân (Thành phố Hồ Chí Minh). Ảnh tư liệu: Doãn Tấn/TTXVN
Bộ Chính trị đã ban hành rất nhiều nghị quyết cần phải được thể chế hóa trong Luật Dầu khí sửa đổi này, như: Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước; Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Đối với Điều 40 về xử lý tài sản, máy móc, thiết bị sau khi kết thúc khai thác và thu dọn công trình dầu khí, cần bổ sung quy định cụ thể về quản lý, sử dụng quỹ bảo đảm nghĩa vụ thu dọn công trình, đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết nhằm bảo đảm sử dụng quỹ hiệu quả, minh bạch.
Đối với Điều 53 về phát triển công trình năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí, đề nghị bổ sung các quy định nhằm khai thác hiệu quả không gian biển theo tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW, đồng thời bảo đảm gắn kết giữa phát triển, khai thác công trình ngoài khơi gắn liền với hoạt động dầu khí, bảo vệ biển đảo và an ninh quốc phòng.
Đại biểu Đinh Công Sỹ (Đoàn Phú Thọ): Hoàn thiện quy định về chuỗi giá trị dầu khí và năng lượng ngoài khơi
Nhất trí với quy định của dự thảo Luật bổ sung phát triển chuỗi giá trị dầu khí và năng lượng ngoài khơi. Đây là định hướng phù hợp với yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và thực hiện chủ trương chuyển dịch năng lượng, giúp Việt Nam thực hiện cam kết Net Zero vào năm 2050.
Tuy nhiên, các quy định của dự thảo Luật còn mang tính định hướng, chưa làm rõ nội hàm của "chuỗi giá trị dầu khí", chưa xác định phạm vi điều chỉnh cũng như cơ chế phối hợp giữa hoạt động dầu khí với các ngành năng lượng mới, chưa có quy định về nguyên tắc sử dụng chung hạ tầng ngoài khơi để tối ưu hóa nguồn lực xã hội. Đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu quy định cụ thể hơn về cơ chế phối hợp với phát triển điện khí, hydrogen và năng lượng tái tạo ngoài khơi; nguyên tắc sử dụng chung hạ tầng kỹ thuật; đồng thời giao Chính phủ quy định cụ thể.
Việc quy định về năng lượng ngoài khơi (như điện gió) dễ xung đột với quy định của Luật Điện lực và Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; các tiêu chí về công nghệ cao có thể trùng lặp hoặc chưa thống nhất với Luật Công nghệ cao. Theo đó, Luật Dầu khí chỉ nên điều chỉnh các dự án năng lượng ngoài khơi và công nghệ thu giữ, lưu trữ carbon (CCS) gắn trực tiếp với hoạt động dầu khí.
Về điều chỉnh cam kết công việc trong hợp đồng dầu khí (Điều 22): Hoạt động dầu khí có đặc điểm là chu kỳ đầu tư dài, vốn đầu tư lớn, rủi ro cao và chịu tác động mạnh của các yếu tố khách quan như biến động giá dầu, điều kiện địa chất, chính sách tài chính - thuế và yêu cầu bảo vệ môi trường. Trong khi đó, thời hạn của một hợp đồng dầu khí thường kéo dài từ 20 đến 30 năm, thậm chí lâu. Vì vậy, nếu hợp đồng không có cơ chế điều chỉnh phù hợp thì sẽ làm giảm tính khả thi của dự án, ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác tài nguyên và môi trường đầu tư. Đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung việc điều chỉnh cam kết công việc trong hợp đồng dầu khí đối với trường hợp biến động lớn về giá dầu khí hoặc thay đổi chính sách năng lượng, chính sách thuế; đồng thời bổ sung quy định việc điều chỉnh cần được thực hiện theo nguyên tắc bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước và nhà đầu tư; đồng thời vẫn giữ ổn định môi trường đầu tư.
Đại biểu Đỗ Thị Việt Hà (Đoàn Bắc Ninh): Đề nghị rà soát chính sách ưu đãi thuế
Đại biểu Đỗ Thị Việt Hà (Đoàn Bắc Ninh). Ảnh tư liệu: Doãn Tấn/TTXVN
Tại Khoản 4, Điều 42, dự thảo Luật quy định cụ thể mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế xuất khẩu dầu thô đối với các lô, mỏ dầu khí được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư và ưu đãi đầu tư đặc biệt. Tuy nhiên, đề nghị rà soát để bảo đảm thống nhất với hệ thống pháp luật về thuế.
Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp đã quy định nguyên tắc, đối tượng áp dụng và giao Thủ tướng Chính phủ quyết định mức thuế suất cụ thể đối với từng hợp đồng dầu khí. Vì vậy, không nên quy định mức thuế suất cụ thể trong dự thảo Luật.
Đối với thuế xuất khẩu dầu thô, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đã quy định khung thuế suất và giao Chính phủ quy định mức thuế suất cụ thể theo từng nhóm hàng, không căn cứ theo dự án. Do đó, đề nghị bỏ quy định mức thuế suất cụ thể trong dự thảo Luật để bảo đảm thống nhất với pháp luật về thuế và đúng thẩm quyền.
Đại biểu Lê Văn Thế (Đoàn Ninh Bình): Làm rõ cơ chế khai thác dữ liệu và thủ tục đầu tư
Dự thảo Luật quy định tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài liệu, thông tin, dữ liệu và kết quả điều tra cơ bản về dầu khí phải trả phí theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí hoặc theo thỏa thuận được phê duyệt. Như vậy, dự thảo đang đặt ra 2 cơ chế thanh toán: Trả phí, lệ phí theo Luật Phí và lệ phí; Trả phí theo thỏa thuận được phê duyệt.
Cần phân biệt rõ giữa "phí" và "cơ chế thỏa thuận giá dịch vụ". Nếu là "phí" thì phải thuộc cơ chế điều chỉnh của Luật Phí và lệ phí. Nếu là khoản thu theo thỏa thuận thì cần xác định rõ bản chất đó là giá dịch vụ hay cơ chế khai thác dữ liệu theo hợp đồng; đồng thời quy định rõ thẩm quyền quyết định và cơ chế quản lý nguồn thu.
Bên cạnh đó, dự thảo quy định cơ quan quản lý nhà nước về dầu khí cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư trên cơ sở hợp đồng dầu khí đã ký kết và giấy chứng nhận này thay thế việc chấp thuận chủ trương đầu tư đối với dự án dầu khí.
Đây là cách tiếp cận hợp lý vì đặc thù của dự án dầu khí là chuỗi thủ tục kéo dài, liên quan nhiều khâu và cần tính liên tục cao. Tuy nhiên, để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, đề nghị chỉnh lý Điều 18 theo hướng quy định rõ hơn phạm vi tác động của cơ chế đặc thù này.
Cụ thể, Luật nên nêu rõ Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư chỉ thay thế chấp thuận chủ trương đầu tư trong phạm vi dự án dầu khí theo Luật này. Đối với các thủ tục liên quan khác như đất đai, xây dựng, môi trường, điện lực và pháp luật chuyên ngành khác có liên quan thì vẫn phải thực hiện theo quy định tương ứng.
Quy định như vậy sẽ tránh được cách hiểu là dự thảo Luật này đang thay thế toàn bộ cơ chế đầu tư chung, đồng thời vẫn bảo đảm mục tiêu cải cách thủ tục hành chính.