Khi di sản cần một “hạ tầng” dữ liệu
Một hiện vật có thể được quét thành mô hình 3D, một không gian có thể được tái hiện để người xem tham quan từ xa nhưng nếu dữ liệu được tạo lập theo những tiêu chuẩn khác nhau, không thể kết nối với nhau thì những sản phẩm số này khó trở thành nguồn tài nguyên lâu dài cho bảo tồn và nghiên cứu.
Đây là vấn đề được đặt ra từ thực tế quản lý di sản tại TP Hồ Chí Minh. Theo ông Nguyễn Minh Nhựt, Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao TP Hồ Chí Minh, các phường, xã, đặc khu đang đặt ra nhiều câu hỏi về việc bắt đầu số hóa từ đâu, sử dụng tiêu chuẩn nào, ai cập nhật dữ liệu và dữ liệu sau khi tạo lập sẽ được kết nối, khai thác như thế nào.
Theo ông Nguyễn Minh Nhựt, quá trình này không chỉ đặt ra yêu cầu về tiêu chuẩn và khả năng kết nối dữ liệu, mà còn liên quan đến nhân lực, kinh phí, hạ tầng kỹ thuật, bản quyền, an toàn thông tin và cơ chế khai thác dữ liệu sau số hóa. Đây là những điều kiện cần được tính đến ngay từ đầu để dữ liệu di sản có thể được duy trì, cập nhật và sử dụng lâu dài, thay vì chỉ tạo ra những sản phẩm số cho từng dự án riêng lẻ.
Vấn đề vì thế không chỉ nằm ở việc “số hóa bao nhiêu hiện vật”, mà là dữ liệu sau số hóa có thể tiếp tục được sử dụng ra sao. Theo đó, Tiến sĩ Phạm Thị Khánh Ngân, Chánh Văn phòng Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), đề cập hướng xây dựng nền tảng dữ liệu dùng chung cho năm lĩnh vực gồm di tích, bảo tàng, hiện vật, di sản văn hóa phi vật thể và di sản tư liệu. Dữ liệu có thể được hình thành từ hồ sơ, kết quả kiểm kê, xếp hạng, ghi danh cùng các tư liệu số như mô hình 3D, bản vẽ, phim tài liệu.
Theo hướng này, dữ liệu không chỉ được lưu trữ mà còn có thể kết nối, chuẩn hóa và khai thác cho nhiều mục đích như quản lý nhà nước, nghiên cứu, bảo tồn, giáo dục, xây dựng bản đồ di sản và phát triển các hình thức tham quan trực tuyến. Việc kết nối các nguồn dữ liệu cũng góp phần hạn chế tình trạng mỗi dự án số hóa tạo ra một sản phẩm riêng, khó liên thông hoặc tiếp tục khai thác về sau.
Kinh nghiệm của Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh cho thấy, quá trình này đòi hỏi cả chuẩn hóa dữ liệu lẫn tổ chức lại cách vận hành. Thạc sĩ Lâm Ngô Hoàng Anh, Phó Giám đốc Phụ trách quản lý, điều hành Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh, cho biết đơn vị đã số hóa 100% hồ sơ quản lý hiện vật, chuẩn hóa 130 trang thuật ngữ phục vụ mô tả, phân loại và tra cứu.
Từ nền tảng dữ liệu đó, bảo tàng triển khai nhiều giải pháp phục vụ quản lý và công chúng như cổng kiểm soát vé tự động, máy bán vé thông minh, màn hình chỉ dẫn và hệ thống thuyết minh âm thanh với 119 điểm nội dung bằng 10 ngôn ngữ.
Điều đáng chú ý theo ông Lâm Ngô Hoàng Anh, hiệu quả chuyển đổi số không nên chỉ được đo bằng số lượng thiết bị hay ứng dụng được đưa vào sử dụng, mà cần nhìn vào chất lượng trải nghiệm, mức độ tương tác và sự hài lòng của công chúng. Muốn vậy, các ứng dụng cũng cần được kết nối thay vì phát triển rời rạc.
Mở rộng trải nghiệm, giữ nguyên giá trị gốc
Khi hạ tầng dữ liệu được hình thành, công nghệ có thể mở rộng đáng kể cách công chúng tiếp cận di sản. Với di sản sơn mài, Tiến sĩ Ngô Hồ Anh Khôi, Phó Hiệu trưởng Trường Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo, Trường Đại học Nam Cần Thơ, đề xuất việc tạo lập tư liệu số từ quá trình chụp, quét hiện vật, ghi nhận cấu trúc bề mặt và đặc điểm chất liệu.
Từ dữ liệu này, các mô hình 3D, không gian trưng bày ảo, trải nghiệm thực tế ảo, thực tế tăng cường hay sách tương tác 3D có thể tạo thêm những cách khám phá tác phẩm. Những đề xuất về thư viện họa tiết, bản quyền số hay nội dung giáo dục cũng cho thấy dữ liệu di sản có thể được tiếp tục khai thác trong các lĩnh vực sáng tạo.
Từ góc nhìn công nghệ nhập vai và trí tuệ nhân tạo, ông Christopher Bryson, Giám đốc Công ty Infinite Muse, lưu ý rằng dữ liệu 3D có thể trở thành nền tảng cho nhiều trải nghiệm khác nhau, từ khám phá không gian đến hỗ trợ nội dung thuyết minh hay AI cũng có thể hỗ trợ xử lý, tìm kiếm và phát triển nội dung dựa trên dữ liệu đã được tạo lập.
Tuy nhiên, khi AI có thể tạo ra những hình ảnh rất chân thực, công chúng có thể khó phân biệt đâu là phần đã được ghi nhận, đâu là phần diễn giải hoặc tái dựng. Vì vậy, sản phẩm số cần cho thấy nguồn dữ liệu và mức độ chắc chắn của thông tin, đồng thời để chuyên gia kiểm chứng nội dung.
Một mô hình tái dựng không thể thay thế hồ sơ, bản ghi đo đạc hay dữ liệu quét ban đầu. Những dữ liệu gốc này cần được lưu giữ để các diễn giải có thể được kiểm tra, chỉnh sửa và cập nhật khi có thêm thông tin.
Đây cũng là điểm nối giữa bảo tồn và sáng tạo trong môi trường số, bởi công nghệ có thể mở thêm một “lớp” trải nghiệm cho di sản, nhưng giá trị của lớp trải nghiệm đó phụ thuộc vào chất lượng dữ liệu đứng phía sau.
Vì vậy, mục tiêu của số hóa di sản không chỉ là tạo ra nhiều mô hình 3D hơn, nhiều không gian ảo hơn hay nhiều ứng dụng AI hơn, quan trọng hơn là hình thành được một hệ thống dữ liệu có chuẩn, có nguồn gốc, có cơ chế cập nhật và phân công trách nhiệm rõ ràng, đồng thời có khả năng kết nối. Khi nền tảng ấy đủ tin cậy, công nghệ mới có thể mở rộng cách di sản được bảo tồn, nghiên cứu và kể lại với công chúng mà không làm mất đi dấu vết của quá khứ.