Để làm rõ hơn những điểm mới của Quy định 224-QĐ/TW, phóng viên báo Tin tức và Dân tộc đã phỏng vấn đồng chí Trung tướng Trần Đức Thuận, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội về chủ đề này.
Thưa Trung tướng, Quy định số 224-QĐ/TW sẽ tạo điều kiện như thế nào để đảng viên tham gia kinh doanh, phát triển kinh tế?
Quy định số 224-QĐ/TW có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện bước đổi mới trong tư duy lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh của đảng viên, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Điểm cốt lõi ở đây là sự chuyển biến từ tư duy chủ yếu xem xét việc đảng viên có được tham gia kinh doanh hay không, sang tư duy khuyến khích, tạo điều kiện để đảng viên phát huy năng lực, trí tuệ, kinh nghiệm và các nguồn lực hợp pháp, làm giàu chính đáng, đóng góp tích cực cho đất nước. Sự đổi mới này có ý nghĩa trên ba phương diện.
Thứ nhất, giải phóng và phát huy tốt hơn nguồn lực trong đội ngũ đảng viên.
Đảng viên là những người có trình độ, kinh nghiệm, tinh thần trách nhiệm và ý thức tổ chức kỷ luật. Trong đội ngũ đảng viên có nhiều người có năng lực quản trị, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, có kinh nghiệm tổ chức sản xuất, kinh doanh và khả năng huy động các nguồn lực xã hội.
Nếu được tạo điều kiện tham gia đầu tư, kinh doanh trong khuôn khổ quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, những tiềm năng đó sẽ được phát huy tốt hơn, góp phần mở rộng sản xuất, phát triển doanh nghiệp, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động và đóng góp cho ngân sách Nhà nước.
Điều quan trọng là phải nhìn nhận hoạt động kinh doanh hợp pháp, làm giàu chính đáng không đối lập với lý tưởng, mục tiêu của người đảng viên. Ngược lại, khi được thực hiện đúng đắn, đó còn là một phương thức đóng góp thiết thực cho sự phát triển của đất nước.
Thứ hai, tạo hành lang rõ ràng hơn để đảng viên chủ động lựa chọn hình thức tham gia kinh tế phù hợp.
Một điểm tiến bộ của Quy định số 224-QĐ/TW là xác định quyền, điều kiện và giới hạn tham gia đầu tư, kinh doanh gắn với từng nhóm đảng viên, chức danh, vị trí công tác và mức độ liên quan đến việc thực thi quyền lực công.
Quy định phân biệt các hoạt động từ khai thác tài sản, hành nghề chuyên môn, đầu tư góp vốn đến thành lập, quản lý và điều hành doanh nghiệp; đồng thời xác định những hoạt động được thực hiện, những hoạt động phải đáp ứng điều kiện và những hoạt động không được thực hiện.
Cách tiếp cận này vừa tạo thuận lợi cho đảng viên có nhu cầu và năng lực kinh doanh, vừa bảo đảm không áp dụng một khuôn khổ cứng nhắc cho những đối tượng có chức trách, nhiệm vụ và nguy cơ xung đột lợi ích khác nhau.
Thứ ba, củng cố niềm tin và khơi dậy tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo.
Trong thực tiễn, phát triển kinh tế đòi hỏi phải có sự chủ động, sáng tạo, chấp nhận cạnh tranh và dám chịu trách nhiệm về những quyết định đúng pháp luật. Khi quyền và giới hạn được quy định rõ ràng, đảng viên sẽ có cơ sở để chủ động phát huy năng lực, giảm tâm lý e ngại, miễn là không vi phạm các nguyên tắc và điều cấm.
Tuy nhiên, đổi mới ở đây không có nghĩa là nới lỏng kỷ luật của Đảng hay hạ thấp tiêu chuẩn đối với đảng viên. Càng mở rộng điều kiện phát huy quyền kinh doanh hợp pháp thì càng phải đề cao trách nhiệm nêu gương, liêm chính và ý thức chấp hành pháp luật.
Mục tiêu cuối cùng là hình thành đội ngũ đảng viên vừa có bản lĩnh chính trị vững vàng, vừa có năng lực phát triển kinh tế, biết làm giàu chính đáng và có trách nhiệm với cộng đồng; qua đó đóng góp vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Vậy cần làm thế nào để huy động được sức mạnh của đảng viên làm kinh tế đóng góp cho sự phát triển chung của đất nước, thưa Trung tướng?
Để biến tinh thần của Quy định số 224-QĐ/TW thành kết quả thực tế, cần triển khai đồng bộ cả về nhận thức, thể chế, tổ chức thực hiện và cơ chế phát huy trách nhiệm xã hội của đảng viên làm kinh tế.
Trước hết, cần thống nhất nhận thức trong toàn Đảng về vai trò tích cực của hoạt động đầu tư, kinh doanh hợp pháp của đảng viên.
Đảng viên tham gia kinh doanh không chỉ nhằm tạo thu nhập cho bản thân và gia đình, mà còn có thể đóng góp vào việc phát triển lực lượng sản xuất, tạo việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy đổi mới công nghệ và tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Điều này cần được đặt trong tổng thể đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế, được khuyến khích phát triển lành mạnh, hiệu quả và bền vững theo chủ trương của Đảng. Tôi cho rằng cần tập trung vào bốn nhóm giải pháp.
Một là cụ thể hóa đầy đủ quy định của Đảng, đồng bộ với pháp luật của Nhà nước.
Các cơ quan có thẩm quyền cần sớm hướng dẫn thống nhất những nội dung liên quan đến quyền, điều kiện, giới hạn và trách nhiệm của từng nhóm đảng viên; bảo đảm quy định được hiểu và áp dụng nhất quán, tránh tình trạng mỗi nơi hiểu một cách, hoặc đặt thêm thủ tục, điều kiện không có căn cứ.
Khi môi trường thể chế thuận lợi, đảng viên có năng lực sẽ có thêm động lực tham gia phát triển kinh tế, còn doanh nghiệp do đảng viên tham gia đầu tư, quản lý sẽ có điều kiện phát triển bền vững.
Hai là phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên trong đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Cần khuyến khích đảng viên có năng lực phát triển doanh nghiệp dựa trên tri thức, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, kinh tế xanh và các mô hình kinh doanh có giá trị gia tăng cao; chú trọng những lĩnh vực có khả năng nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị.
Đặc biệt, cần phát huy kinh nghiệm, uy tín và năng lực kết nối của đội ngũ đảng viên để thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ và vừa, giữa doanh nghiệp với các cơ sở nghiên cứu, trường đại học và cơ sở đào tạo nghề. Qua đó, hoạt động kinh doanh không chỉ tạo ra lợi ích cho một doanh nghiệp mà còn có thể lan tỏa thành năng lực phát triển của cả ngành, địa phương và nền kinh tế.
Ba là gắn hiệu quả kinh doanh với trách nhiệm xã hội và lợi ích quốc gia, dân tộc.
Một doanh nghiệp phát triển bền vững phải tạo ra giá trị thực chất cho xã hội. Vì vậy, đảng viên làm kinh tế cần gương mẫu thực hiện nghĩa vụ thuế, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, bảo vệ môi trường, tôn trọng quyền lợi người tiêu dùng, giữ chữ tín và xây dựng văn hóa kinh doanh lành mạnh.
Cùng với đó, cần khuyến khích đảng viên, doanh nhân tham gia các chương trình phát triển vùng khó khăn, đào tạo nghề, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ khởi nghiệp và thực hiện các chính sách an sinh xã hội phù hợp với khả năng của mình.
Bốn là kết hợp khuyến khích phát triển với kiểm tra, giám sát và biểu dương, nhân rộng điển hình.
Các cấp ủy, tổ chức đảng cần quan tâm nắm bắt khó khăn, vướng mắc của đảng viên tham gia kinh doanh để kịp thời hướng dẫn, tháo gỡ trong phạm vi thẩm quyền; đồng thời phát hiện, biểu dương những mô hình hiệu quả, những đảng viên làm kinh tế giỏi, có đạo đức kinh doanh và đóng góp tích cực cho cộng đồng.
Việc đánh giá cần dựa trên kết quả thực chất: năng lực tạo ra sản phẩm, việc làm, đóng góp ngân sách, đổi mới công nghệ, tuân thủ pháp luật và trách nhiệm xã hội, chứ không chỉ dựa vào quy mô vốn hay mức độ giàu có.
Điều quan trọng nhất là phải biến tinh thần tiên phong của đảng viên thành giá trị phát triển cụ thể cho đất nước, để mỗi hoạt động kinh doanh đúng đắn đều góp phần tạo ra của cải vật chất, việc làm, nguồn thu và tiến bộ xã hội.
Vậy, việc đảng viên làm kinh tế, tham gia kinh doanh phải vận dụng Quy định 224 như thế nào để bảo đảm công khai, minh bạch và kiểm soát xung đột lợi ích, thưa Trung tướng?
Cần quán triệt rõ nguyên tắc: Khuyến khích đảng viên làm giàu hợp pháp, chính đáng phải luôn đi đôi với giữ vững kỷ luật của Đảng, thượng tôn pháp luật và kiên quyết ngăn chặn việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi.
Quy định mới không chỉ mở rộng điều kiện tham gia đầu tư, kinh doanh mà còn làm rõ trách nhiệm và giới hạn đối với từng nhóm đảng viên. Do đó, việc vận dụng phải bảo đảm ba yêu cầu.
Thứ nhất, công khai, minh bạch về quyền, trách nhiệm và những giới hạn trong hoạt động kinh doanh.
Đảng viên phải hiểu rõ mình thuộc nhóm đối tượng nào, được thực hiện những hoạt động gì, hoạt động nào phải đáp ứng điều kiện và hoạt động nào bị cấm; đồng thời tuân thủ đầy đủ các quy định của Đảng và pháp luật có liên quan.
Đối với cán bộ, đảng viên đang công tác trong khu vực công, việc tham gia đầu tư, kinh doanh phải đặc biệt chú trọng mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế cá nhân với chức trách, nhiệm vụ và quyền hạn được giao.
Không được lợi dụng chức vụ, quyền hạn, tư cách đảng viên, quan hệ công tác hoặc khả năng tiếp cận thông tin để tạo lợi thế bất bình đẳng cho bản thân, người thân hay doanh nghiệp có liên quan.
Công khai, minh bạch ở đây không có nghĩa là công khai tràn lan mọi thông tin tài sản, kinh doanh cá nhân, mà phải thực hiện đúng các nghĩa vụ báo cáo, kê khai, cung cấp thông tin và giải trình theo quy định của Đảng và pháp luật.
Thứ hai, kiểm soát xung đột lợi ích phải đi vào thực chất, không chỉ dừng ở hình thức đứng tên.
Trong thực tế, nguy cơ xung đột lợi ích không chỉ xuất hiện khi cán bộ trực tiếp đứng tên thành lập hoặc điều hành doanh nghiệp, mà còn có thể phát sinh thông qua người có liên quan, quyền chi phối, lợi ích gián tiếp hoặc việc sử dụng thông tin có được từ vị trí công tác. Vì vậy, cần nhận diện và đánh giá xung đột lợi ích dựa trên bản chất của mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế và quyền hạn công vụ, chứ không chỉ căn cứ vào hồ sơ sở hữu trên danh nghĩa.
Đối với cán bộ, đảng viên có thẩm quyền tham mưu, quyết định hoặc quản lý trong các lĩnh vực như đầu tư, đất đai, đấu thầu, tài chính, ngân sách và phân bổ nguồn lực, phải đặc biệt chú trọng phòng ngừa nguy cơ lợi ích cá nhân chi phối việc thực hiện nhiệm vụ.
Khi phát sinh xung đột lợi ích hoặc khi được cấp có thẩm quyền yêu cầu, đảng viên phải kịp thời báo cáo và thực hiện các biện pháp xử lý, kiểm soát theo quy định; không tham gia giải quyết công việc có xung đột lợi ích chưa được kiểm soát, trừ trường hợp được cấp có thẩm quyền cho phép theo quy định.
Thứ ba, tăng cường trách nhiệm của tổ chức đảng, cơ quan quản lý và bản thân đảng viên.
Các cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan chức năng cần thực hiện kiểm tra, giám sát theo đúng chức năng, thẩm quyền; xây dựng cơ chế phối hợp và chia sẻ thông tin phù hợp; kịp thời phát hiện những dấu hiệu vi phạm, lợi dụng quyền lực hoặc hình thành lợi ích nhóm.
Đồng thời, cần phân biệt rõ giữa hoạt động kinh doanh hợp pháp, có đóng góp cho xã hội với hành vi vi phạm. Không nên vì một số nguy cơ có thể phát sinh mà gây cản trở không cần thiết đối với quyền kinh doanh hợp pháp của đảng viên; nhưng cũng tuyệt đối không được nhân danh khuyến khích kinh doanh để dung túng cho hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật.
Việc xử lý vi phạm phải bảo đảm khách quan, công bằng, đúng thẩm quyền, đúng tính chất và mức độ vi phạm; người chấp hành tốt phải được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi phải bị xử lý nghiêm.
Nếu làm tốt ba yêu cầu này, chúng ta sẽ giải quyết được mối quan hệ giữa phát triển và kiểm soát, giữa khuyến khích làm giàu chính đáng và giữ gìn sự trong sạch của Đảng.
Mục tiêu không phải là hạn chế đảng viên tham gia kinh doanh, mà là tạo điều kiện để hoạt động kinh doanh phát triển đúng hướng, đồng thời bảo đảm quyền lực công không bị thương mại hóa, không bị lợi dụng để phục vụ lợi ích cá nhân hay lợi ích nhóm. Đó cũng chính là cách củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, xây dựng văn hóa liêm chính và tạo nền tảng cho phát triển đất nước nhanh, bền vững.
Xin trân trọng cảm ơn Trung tướng!