Đồng chí Phạm Minh Chính, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương. Ảnh: Nguyễn Khang/TTXVN |
Trong cấu trúc của nghị quyết, mỗi nội dung có vai trò, vị trí riêng của nó, trong đó các quan điểm, nguyên tắc có giá trị chỉ đạo bao trùm, bởi nó vừa phản ánh trình độ lý luận hóa thực tiễn, vừa là căn cứ xây dựng các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp giải quyết các vấn đề trong thực tiễn, đặc biệt đối với những vấn đề mới và khó, đụng chạm đến các mối quan hệ phức tạp. Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương đề ra 5 quan điểm chỉ đạo; việc quán triệt sâu sắc các quan điểm này có ý nghĩa rất quan trọng, quyết định tới việc thực hiện, bảo đảm cho Nghị quyết đi vào cuộc sống đạt hiệu quả.
Cụ thể hóa đường lối Đại hội XII của Đảng, Hội nghị Trung ương 7 khóa XII đã thảo luận và ban hành Nghị quyết về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Nghị quyết 26-NQ/TW, ngày 19/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương được xây dựng trên quan điểm đổi mới, coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng đảng là nhiệm vụ then chốt, đổi mới kinh tế đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị, và mọi quá trình đổi mới đều hướng vào mục tiêu vì con người. Yếu tố cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược trong Nghị quyết, là trung tâm, xuyên qua mọi đổi mới trên các lĩnh vực, có vai trò quan trọng nhất, quyết định thành công hay thất bại của sự nghiệp cách mạng của Đảng.
Trên cơ sở đánh giá 20 năm thực hiện Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tổng kết thực tiễn ở cả phạm vi chiều rộng lẫn chất lượng chiều sâu; nghiên cứu khoa học để xác lập căn cứ thực tiễn - lý luận; đồng thời, bám sát các cơ sở chính trị - pháp lý và khảo cứu kinh nghiệm thế giới có chọn lọc, Nghị quyết đã đưa ra nhận định tổng quát thực trạng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ, chỉ ra nguyên nhân của bất cập, rút ra bài học kinh nghiệm sâu sắc, đề ra các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.
Do đó, quán triệt sâu sắc, toàn diện các quan điểm của Nghị quyết là vấn đề cần được quan tâm trước hết để việc triển khai Nghị quyết đi vào cuộc sống một cách hiệu quả.
Thứ nhất, cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững.
Quan điểm trên đây tiếp tục khẳng định vị trí “then chốt” của đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ trong công tác xây dựng đảng, xây dựng hệ thống chính trị, và rộng hơn là đối với toàn bộ sự nghiệp đổi mới. Vấn đề này đã được Đảng ta nhấn mạnh trong nhiều văn kiện trước đây, nhưng đặt trong bối cảnh hiện nay khi mà cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy ở một số nơi nhận thức còn giản đơn, chưa thật sự chăm lo, quan tâm sâu sắc, chưa đầu tư đúng tầm mức cho xây dựng đội ngũ cán bộ, thậm chí có cả biểu hiện “khoán trắng” cho cơ quan làm công tác tổ chức, cán bộ… mới thấy tính thời sự của vấn đề.
Một điểm mới được xác định trong Nghị quyết là đặt việc xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược trở thành một trọng tâm trong công tác cán bộ, là vấn đề hệ trọng của Đảng, quyết định đến thành bại của sự nghiệp cách mạng, sự tồn vong của chế độ. Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Liên Xô đã cho chúng ta bài học sâu sắc về hậu quả nghiêm trọng khi sai lầm trong bố trí cán bộ cấp chiến lược.
Công tác cán bộ có vị trí “then chốt”, xuyên qua mọi mặt công tác xây dựng đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, vì thế phải tiến hành thận trọng, chặt chẽ, vững chắc, khoa học. Đường lối chính trị và công tác cán bộ là hai vấn đề trọng yếu có tính quyết định bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng. Song, đường lối chính trị cũng do cán bộ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận mà chung đúc nên, đến lượt nó, khi đã có đường lối đúng thì chính cán bộ là người tổ chức thực hiện đường lối đó. Lựa chọn, sử dụng không đúng cán bộ không chỉ có nguy cơ lệch lạc trong khâu tổ chức thực hiện, mà kể cả gặp sai lầm trong khâu hoạch định đường lối.
Công tác cán bộ không thể tiến hành theo “phong trào” mà tiến hành thường xuyên, liên tục, không được gián đoạn; được quan tâm trong cả vòng đời của một con người từ khi bắt đầu được phát hiện ở dạng nguồn đến khi trưởng thành; từ trạng thái phát triển bình thường đến các bước ngoặt khi cất nhắc, bố trí, đề bạt; từ hoạt động tạo nguồn đến đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, bố trí, sử dụng cán bộ. Nhấn mạnh đến luận điểm này đòi hỏi phải khắc phục những thói quen, nếp nghĩ không đúng chỉ tập trung làm “công tác nhân sự” trước mỗi kỳ đại hội mà xem nhẹ hoặc buông trôi ở các thời điểm khác, thiếu tiến hành thường xuyên, bền bỉ với sự tận tâm, tận lực, trách nhiệm cao nhất của cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy và cơ quan làm công tác tổ chức cán bộ.
Tiếp cận trên quan điểm hiệu quả đối với công tác cán bộ là vấn đề mới được đặt ra trong Nghị quyết lần này. Hiệu quả có thể được tiếp cận từ góc độ kinh tế học, xem đầu tư cho cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, phải có công cụ, phương pháp đo lường mức độ đầu tư với kết quả thu được, mấu chốt là đánh giá cán bộ bằng sản phẩm cụ thể. Đánh giá cán bộ vì thế trở thành khâu đột phá, trước hết để bảo đảm cho quan điểm hiệu quả được hiện thực hóa trên thực tế, khắc phục tình trạng lãng phí không đáng có.
Thứ hai, thực hiện nghiêm, nhất quán Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. Chuẩn hóa, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với xây dựng thể chế, tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, phát huy sáng tạo và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung. Phân công, phân cấp gắn với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và xử lý nghiêm minh sai phạm.
Quan điểm trên đây tiếp tục khẳng định vấn đề có tính nguyên tắc là Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, được đưa ra trong Nghị quyết Trung ương 3 Khóa VIII nhưng đã phát triển lên một tầm cao mới cho phù hợp với tình hình thực tế. Đó là việc thực hiện nghiêm, nhất quán Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ.
Phân cấp, phân công được nhấn mạnh trong quan điểm này nhằm làm cho các chủ thể quản lý cán bộ xác định rõ hơn quyền và ràng buộc trách nhiệm, chủ động trong nhiệm vụ của mình, tránh tình trạng ỷ lại, đùn đẩy, thoái thác trách nhiệm ở những việc khó. Tất nhiên, phân công, phân cấp phải gắn với ràng buộc trách nhiệm vào quyền hạn, tăng cường kiểm tra, giám sát, đặc biệt là kiểm soát quyền lực, nếu không quyền lực sẽ bị lạm dụng, dẫn tới tình trạng phân tán, chia cắt trong công tác cán bộ, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, tạo môi trường cho lộng quyền, lạm quyền, tha hóa quyền lực.
Thứ ba, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, thường xuyên đổi mới công tác cán bộ phù hợp với tình hình thực tiễn. Xây dựng đội ngũ cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới; thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân; đặt trong tổng thể của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài.
Quan điểm này được tích hợp bởi nhiều luận điểm, trong đó yêu cầu đầu tiên là tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, thường xuyên đổi mới công tác cán bộ phù hợp với tình hình thực tiễn. Đại hội VI của Đảng (12-1986) trong khi khởi xướng đường lối đổi mới toàn diện đã rút ra bài học tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, nhưng tập trung nhiều trên phương diện kinh tế.
Xây dựng đội ngũ cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ thời kỳ mới, thông qua thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân... là vấn đề mang tính nguyên lý của Đảng ta. Trước hết, phải xuất phát từ yêu cầu xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN), Nhà nước pháp quyền XHCN; phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN; giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa nhà nước - thị trường - xã hội; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng; giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; đối phó với những thách thức từ mặt trái của kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và tác động của biến đổi khí hậu, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, nền kinh tế số, kinh tế tri thức, kinh tế xanh...
Lợi ích của nhân dân là căn cứ xuất phát cho sáng tạo, đổi mới của cán bộ; phong trào cách mạng là môi trường cho cán bộ rèn luyện, phấn đấu, đồng thời là nơi kiểm nghiệm, tôn vinh những cán bộ đem lại lợi ích cho nhân dân, được nhân dân ghi nhận, là nơi sàng lọc những cán bộ yếu kém, thoái hóa, biến chất, đi ngược lại lợi ích của nhân dân. Mỗi thời kỳ lịch sử, ứng với nhiệm vụ cách mạng cụ thể, phải có đội ngũ cán bộ tương ứng.
Xây dựng đội ngũ cán bộ phải đặt trong tổng thể của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, và giữa chúng có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng có nhiều nội dung, nhưng trung tâm vẫn là cán bộ, đảng viên và xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiệu quả sẽ tác động tích cực, sâu sắc đến xây dựng đội ngũ cán bộ. Chỉ khi có chuyển biến tích cực thật sự trong xây dựng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là việc phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ cấp chiến lược, của người đứng đầu cấp ủy các cấp trong phấn đấu, rèn luyện, đấu tranh, ngăn chặn, đầy lùi suy thoái và phòng chống tham nhũng, tiêu cực có hiệu quả thì xây dựng, chỉnh đốn Đảng mới thành công; làm tiền đề cho xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh.
Cán bộ là nhân tố “động” của tổ chức, cho nên, xây dựng đội ngũ cán bộ phải gắn với kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Chỉ trên cơ sở xây dựng bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, không chồng chéo, trùng lắp, phân quyền và phân cấp rõ ràng, rành mạch, mới bảo đảm cho cán bộ thực sự phát huy tinh thần, trách nhiệm, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ. Trong quá trình vận hành bộ máy, kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, một bộ máy thiết kế bất hợp lý không những không phát huy được đầy đủ năng lực của cán bộ, mà trong không ít trường hợp còn làm hỏng cán bộ. Thời gian qua, không ít nơi cán bộ đùn đẩy trách nhiệm, làm việc trung bình chủ nghĩa có nguyên nhân là do bộ máy thiết kế trùng dẫm ở bộ phận này hay bộ phận khác; chức năng, nhiệm vụ còn chồng chéo.
Xây dựng đội ngũ cán bộ phải dựa trên cơ sở nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng và thu hút, trọng dụng nhân tài. Thoát ly khỏi quá trình nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài thì có nghĩa là công tác cán bộ chỉ tiến hành phần “ngọn” mà tách rời khỏi phần “gốc” làm nền tảng. Một nền giáo dục tiên tiến, nhân văn, phù hợp và hội nhập sẽ có ý nghĩa tích cực vào việc tạo nguồn cán bộ cho đất nước. Đây là cái nôi nuôi dưỡng, hình thành nhân cách, ý thức trách nhiệm với đất nước, lòng tự tôn dân tộc v.v. ở mỗi con người. Khoa học đã chứng minh rằng, nhiều nhân cách và kỹ năng của con người định hình từ thuở ấu thơ và nền giáo dục đóng góp quan trọng vào hình thành nhân cách và kỹ năng đó, như sử dụng ngoại ngữ, làm việc theo nhóm, ý thức tập thể, xây dựng quan hệ hợp tác liên cá nhân, các giá trị đạo đức căn bản của con người (tình yêu nước, danh dự, tự trọng, dấn thân, đức hy sinh...).
Thứ tư, quán triệt nguyên tắc về quan hệ giữa đường lối chính trị và đường lối cán bộ; quan điểm giai cấp và chính sách đại đoàn kết rộng rãi trong công tác cán bộ. Xử lý hài hòa, hợp lý mối quan hệ giữa tiêu chuẩn và cơ cấu, trong đó tiêu chuẩn là chính; giữa xây và chống, trong đó xây là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài, chống là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên; giữa đức và tài, trong đó đức là gốc; giữa tính phổ biến và đặc thù; giữa kế thừa, đổi mới và ổn định, phát triển; giữa thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân và tập thể.
Yêu cầu trước hết trong quan điểm này là quán triệt nguyên tắc về tính thống nhất giữa đường lối chính trị với đường lối cán bộ. Đường lối cán bộ phải phục tùng đường lối chính trị. Đường lối chính trị vạch ra mục tiêu, nhiệm vụ, phương hướng, con đường và các giải pháp để đạt được mục tiêu của sự nghiệp cách mạng, trong đó có xây dựng đội ngũ cán bộ. Ngược lại, ứng với đường lối chính trị ở từng thời kỳ phải có đường lối cán bộ phù hợp. Yêu cầu cơ bản của đường lối cán bộ là xây dựng được một đội ngũ cán bộ có khả năng hoạch định và tổ chức thực thi đường lối chính trị đạt kết quả tối ưu. Vì vậy, sai lầm trong lựa chọn cán bộ, đặc biệt cán bộ cấp chiến lược, không chỉ làm ảnh hưởng tới hiệu quả khâu tổ chức thực hiện, mà không loại trừ nguy cơ sai lầm về đường lối khi cán bộ là người tham gia hoạch định đường lối.
Xử lý mối quan hệ biện chứng giữa quan điểm giai cấp với thực hiện đại đoàn kết dân tộc trong xây dựng đội ngũ cán bộ là quan điểm nhất quán của Đảng ta từ trước tới nay. Quán triệt quan điểm giai cấp, cố nhiên không chỉ quan tâm đến nguồn gốc xuất thân của cán bộ, mà cơ bản hơn là mọi cán bộ đều phải được giáo dục để thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phải được giác ngộ mục tiêu, lý tưởng, sự nghiệp cách mạng của Đảng; phải đứng trên lập trường của Đảng để xem xét, xử lý mọi công việc, kể cả tác phong sinh hoạt đời thường; phải được thử thách, rèn luyện qua thực tiễn để thấu hiểu và thấu cảm đời sống nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm hạnh phúc của chính mình; phải lấy mục tiêu, lý tưởng của Đảng, sự phát triển của đất nước, hạnh phúc của nhân dân làm khát vọng dấn thân, cống hiến và hy sinh; rèn tác phong và lối sống gần gũi, gắn bó với giai cấp công nhân và nhân dân lao động, tẩy trừ các căn bệnh “quan cách mạng” xa cách nhân dân, xa lạ với bản chất của người cán bộ cách mạng.
Đi đôi với quán triệt quan điểm giai cấp là phát huy khối đại đoàn kết dân tộc trong công tác cán bộ, đặc biệt là mở rộng dân chủ để thu hút, trọng dụng nhân tài rộng rãi; đổi mới công tác hiệp thương, bầu cử để thu hút người ngoài Đảng tham gia Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp; mở rộng diện quy hoạch và tổ chức thi tuyển để trọng dụng được cả người trong và ngoài Đảng có tài đức, tâm huyết phấn đấu cho đất nước; bảo đảm liên thông giữa nhân lực khu vực công với khu vực tư; có cơ chế để bảo đảm tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số, trí thức, văn nghệ sĩ trong các thiết chế lãnh đạo, quản lý; xây dựng cốt cán trong các tôn giáo; có chính sách trọng dụng nhân tài, chuyên gia có trình độ cao không phân biệt thành phần giai cấp, những người có tâm huyết tham gia vào các tổ chức khác nhau để hiến kế, đóng góp trí tuệ, sức lực cho đất nước.
Khi xử lý các mối quan hệ lớn như giữa tiêu chuẩn và cơ cấu, xây và chống, đức và tài, quan điểm nêu trên đã định vị được vai trò, tính chất của từng yếu tố trong từng cặp quan hệ, nhất khi thao tác cụ thể như một biện pháp kỹ thuật của công tác cán bộ. Trong giải quyết mối quan hệ giữa cơ cấu và tiêu chuẩn phải xem tiêu chuẩn là chính - quan điểm này tạo cơ sở cho nhận thức và xử lý nhiều bất cập trước đây vì nặng về cơ cấu mà xem nhẹ tiêu chuẩn dẫn tới chất lượng cán bộ không đảm bảo; đặt cơ sở cho đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa cho các vị trí lãnh đạo, quản lý, đặc biệt với cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số.
Một loạt mối quan hệ khác được đề cập trong quan điểm này như giữa tính phổ biến và đặc thù; giữa kế thừa, đổi mới và ổn định, phát triển; giữa thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân và tập thể. Đây là các mối quan hệ rất cơ bản, nếu không nhận thức thấu đáo và thiếu giải pháp hợp lý, khi thao tác thành biện pháp kỹ thuật rất dễ nghiêng về cực này hay cực kia. Quan hệ giữa tính phổ biến và tính đặc thù chi phối rất lớn đến công tác cán bộ, bản chất là xử lý quan hệ giữa cái chung và cái riêng.
Quan hệ giữa kế thừa, đổi mới và ổn định, phát triển cũng là quan hệ rất cơ bản có ý nghĩa trong công tác cán bộ. Phát triển bền vững vừa là yêu cầu, vừa là mục tiêu hướng tới của đổi mới, làm cho đội ngũ cán bộ ngày càng trưởng thành cả về mặt lượng lẫn mặt chất. Kế thừa, ổn định là điều kiện, tiền đề, môi trường cho đổi mới, sáng tạo và phát triển. Ổn định của đội ngũ cán bộ không đồng nghĩa với trì trệ, bảo thủ mà là trạng thái phát triển trong cân bằng, không dẫn tới rối loạn, bất ổn, giữ vững bản chất cách mạng.
Quan hệ giữa thẩm quyền, trách nhiệm tập thể và cá nhân là vấn đề rất cốt yếu trong công tác cán bộ, cũng là nội dung chủ yếu của nguyên tắc tập trung dân chủ, trên thực tế còn gặp không ít vướng mắc khi triển khai. Rất phổ biến là trách nhiệm tập thể chung chung, trách nhiệm cá nhân không rõ ràng, nên khi xảy ra các tiêu cực, vi phạm không xác định được cá nhân chịu trách nhiệm. Trách nhiệm tập thể chung chung cũng là môi trường cho cá nhân núp bóng, mượn danh tập thể để hợp thức hóa động cơ cá nhân mà né tránh nguyên tắc, kỷ luật của tổ chức. Trong khi khắc phục tình trạng vai trò tập thể chung chung, không phải dễ dàng tìm được giải pháp thích hợp mà dễ nhảy từ cực nọ sang cực kia, tức xem nhẹ vai trò tập thể, cá nhân lộng quyền, lạm quyền trong các khâu khác nhau của công tác cán bộ.
Thứ năm, xây dựng đội ngũ cán bộ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trực tiếp là cấp ủy, tổ chức đảng mà trước hết là người đứng đầu và cơ quan tham mưu của Đảng, trong đó cơ quan tổ chức, cán bộ là nòng cốt. Phát huy mạnh mẽ vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và cơ quan truyền thông, báo chí trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó máu thịt với nhân dân; thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ.
Quan điểm này xác định rõ trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và từng chủ thể đối với xây dựng đội ngũ cán bộ và đổi mới công tác cán bộ; trật tự, vị trí, vai trò của từng chủ thể đối với từng khâu, từng mặt của công tác cán bộ. Trong khi xác định trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, quan điểm này chỉ rõ trách nhiệm trực tiếp là của cấp ủy, tổ chức Đảng, trước hết là người đứng đầu và các cơ quan tham mưu của Đảng làm công tác tổ chức, cán bộ có vai trò nòng cốt. Điều này nhất quán với nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, trách nhiệm trước hết của cấp ủy đảng, tổ chức đảng trong chăm lo xây dựng toàn diện mọi mặt từ công tác tạo nguồn, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, luân chuyển cũng như chính sách đối với cán bộ, từ chăm lo phát triển tâm lực đến trí lực, thể lực, được thực hiện thường xuyên trong cả vòng đời của người cán bộ.
Cùng với trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp là phải phát huy mạnh mẽ, đầy đủ vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân trong xây dựng đội ngũ cán bộ. Trách nhiệm của Nhà nước thể hiện ở năng lực thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng thành pháp luật để quản lý cán bộ theo pháp luật; thực hiện giám sát tối cao của Quốc hội và giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp đối với cán bộ, công chức, viên chức, góp phần kiểm soát quyền lực; thực hiện các nhiệm vụ tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, bầu cử, thi đua - khen thưởng, quản lý công chức, viên chức theo phân công, phân cấp; huy động nguồn lực và quản lý có hiệu quả nguồn lực đầu tư cho xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, từ nguồn lực cho xây dựng kết cấu hạ tầng - kỹ thuật, đào tạo, bồi dưỡng đến chính sách tiền lương, nhà ở…
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội có trách nhiệm đoàn kết, tập hợp các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ, bảo đảm đại đoàn kết toàn dân tộc trong công tác cán bộ. Trong điều kiện tăng cường kiểm soát quyền lực, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân phải làm tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội, từ phản biện đường lối cán bộ khi ở dạng dự thảo, chuyển tải đầy đủ nguyện vọng, lợi ích của các tầng lớp nhân dân vào đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đến giám sát đội ngũ cán bộ công chức, bao gồm cả hành vi công vụ đến đạo đức, lối sống, bảo đảm cho cán bộ luôn trong sạch, liêm chính, phòng ngừa tha hóa, sa ngã.
Quan điểm này cũng nhấn mạnh đến vai trò của truyền thông, báo chí trong xây dựng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ. Không phải bây giờ Đảng ta mới thấy vai trò của báo chí, mà trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng ta đã rất coi trọng sử dụng báo chí trở thành phương tiện đắc lực hỗ trợ, phục vụ cho công tác cán bộ. Nhưng hiện nay, chúng ta đang đối diện với sự bùng nổ của mạng xã hội, cách mạng công nghệ thông tin phát triển vượt bậc, báo chí kỹ thuật số ngày càng lấn át báo in truyền thống… và tác động hàng ngày, hàng giờ đến đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ.
Tư tưởng dựa vào dân để xây dựng đội ngũ cán bộ thực chất là việc lấy dân làm gốc, tuy không mới nhưng đặt trong bối cảnh công tác cán bộ ở nơi này hay nơi khác, lúc này hay lúc khác còn tiến hành khép kín, chưa huy động được đầy đủ sự tham gia của nhân dân, tình trạng quan liêu, xa dân, thờ ơ của cán bộ với nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân nhiều nơi đáng báo động, nên nhấn mạnh việc phải dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ trong Nghị quyết lần này lại mang ý nghĩa thời sự cấp bách.