Giáo sư Huy Đặng (thứ hai bên phải) chụp ảnh lưu niệm cùng các diễn giả tham dự hội thảo trực tiếp. Ảnh: NVCC
Nội dung này đã được nhấn mạnh tại hội thảo trực tuyến kết hợp trực tiếp về quan hệ đối tác thương mại và đầu tư nông nghiệp Canada–Việt Nam, do Hội đồng Thương mại Canada–Việt Nam tổ chức. Sự kiện quy tụ đại diện các cơ quan chính phủ, giới nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp hai nước.
Trình bày tại hội thảo, ông Greg Folinazzo từ Bộ Nông nghiệp và Thực phẩm Canada cho rằng Việt Nam là thị trường ưu tiên và là cửa ngõ chiến lược đối với ngành nông nghiệp Canada tại Đông Nam Á.
Xuất khẩu nông sản, thực phẩm và thủy sản của Canada sang Việt Nam tăng trung bình 22,7% mỗi năm trong giai đoạn 2021–2025, đạt khoảng 702 triệu CAD trong năm 2025. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực gồm lúa mì, đậu tương, thịt bò đông lạnh, cua đông lạnh và khô dầu cải.
Ở chiều ngược lại, Canada nhập khẩu khoảng 964 triệu CAD nông sản và thực phẩm từ Việt Nam trong năm 2025. Các mặt hàng nổi bật gồm tôm, cá phi lê và những sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng. Cơ cấu thương mại này cho thấy hai nền kinh tế có tính bổ trợ tương đối rõ, tạo dư địa để tiếp tục phát triển thương mại hai chiều và tăng cường kết nối chuỗi cung ứng.
Ông Calvin Xiao, Quản lý quan hệ cấp cao của Cơ quan Phát triển Xuất khẩu Canada (EDC), nhận định Việt Nam là một thị trường then chốt, không chỉ bởi quy mô dân số và nhu cầu ngày càng tăng trong nước mà còn nhờ khả năng kết nối doanh nghiệp Canada với các thị trường xung quanh tại Đông Nam Á.
Theo ông, trong bối cảnh Canada đẩy mạnh đa dạng hóa thương mại và giảm mức độ tập trung vào thị trường Bắc Mỹ, Việt Nam có thể đóng vai trò kép: vừa là thị trường tiêu thụ hàng hóa Canada, vừa là địa điểm tựa để doanh nghiệp xây dựng năng lực sản xuất và mở rộng hoạt động ở khu vực này.
Bà Natujwa Maliondo, cán bộ Phát triển thương mại cấp cao thuộc Bộ Nông nghiệp và Thủy lợi tỉnh bang Alberta, cũng nhấn mạnh rằng doanh nghiệp Canada không nên chỉ nhìn vào quy mô riêng của thị trường Việt Nam mà cần đặt Việt Nam trong chiến lược tiếp cận toàn bộ ASEAN.
Các đại biểu tham dự hội thảo trực tiếp chụp ảnh lưu niệm sau khi kết thúc sự kiện. Ảnh: NVCC
Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đang tạo điều kiện để doanh nghiệp hai nước được hưởng ưu đãi thuế quan và tiếp cận thị trường thuận lợi hơn. Nhưng để thu hút thêm đầu tư của Canada vào ngành nông nghiệp, thực phẩm và chế biến của Việt Nam cũng như khuyến khích đầu tư của Việt Nam vào Canada, hai bên cần tiếp tục giảm thủ tục hành chính và xây dựng môi trường chính sách thuận lợi hơn cho doanh nghiệp.
Các đại biểu nhận định Canada khó cạnh tranh với một số nhà cung cấp gần Việt Nam hơn nếu chỉ xét về giá và chi phí vận chuyển. Tuy nhiên, nông sản Canada có lợi thế về độ tin cậy, an toàn thực phẩm, khả năng truy xuất nguồn gốc, chất lượng dinh dưỡng và tiêu chuẩn môi trường.
Bên cạnh thương mại hàng hóa, hội thảo còn cho thấy hợp tác nông nghiệp Việt Nam–Canada đang mở rộng sang nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ. Những lĩnh vực giàu tiềm năng gồm nông nghiệp chính xác, thủy canh, công nghệ phân bón, chế biến sâu, bảo quản sau thu hoạch, giảm phát thải và xây dựng hệ thống đo lường tín chỉ carbon.
Giáo sư Huy Đặng thuộc Đại học Trent cho rằng biến đổi khí hậu đang làm thay đổi phương thức sản xuất lương thực tại cả Canada và Việt Nam. Canada phải đối mặt với điều kiện mùa Đông khắc nghiệt và nhu cầu tăng khả năng tự chủ về thực phẩm, trong khi Đồng bằng sông Cửu Long lại chịu tác động của xâm nhập mặn, sụt lún đất, nước biển dâng.
Ông này cho rằng hệ thống thủy canh có thể trở thành một hướng hợp tác đáng chú ý do có khả năng tiết kiệm tới 90% lượng nước. Công nghệ này có thể hỗ trợ sản xuất tại những khu vực nơi nguồn nước mặt bị nhiễm mặn hoặc những nơi phải hạn chế sử dụng nước ngầm.
Giáo sư Huy Đặng cho biết nhóm nghiên cứu của ông dự kiến sẽ phối hợp với một viện nghiên cứu lúa tại Cần Thơ để tiến hành thử nghiệm thực địa một số giải pháp công nghệ. Theo ông, sự tham gia của các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và đối tác địa phương là điều kiện quan trọng để đưa kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm vào thực tế sản xuất.
Về nhu cầu công nghệ của thị trường Việt Nam, bà Maliondo cho rằng các yêu cầu mà phía Alberta tiếp nhận gần đây tập trung vào nông nghiệp chính xác, giải pháp tối ưu hóa sản lượng, công nghệ thích ứng với biến đổi khí hậu. Việt Nam đang chuyển dần khỏi mô hình sản xuất sử dụng nhiều lao động, tạo ra nhu cầu ngày càng lớn đối với các giải pháp nâng cao năng suất và hiệu quả.
Kinh nghiệm được các doanh nghiệp chia sẻ tại hội thảo cũng cho thấy việc tìm đúng đối tác địa phương, hiểu văn hóa kinh doanh và xây dựng quan hệ lâu dài có ý nghĩa quyết định. Thay vì cạnh tranh trực tiếp với những nhà cung cấp đã chiếm ưu thế, doanh nghiệp Canada có thể lựa chọn những phân khúc chuyên biệt, phát huy thế mạnh về chất lượng, công nghệ và thương hiệu.
Với nền tảng là CPTPP và triển vọng tăng cường quan hệ kinh tế giữa Canada với ASEAN, hợp tác nông nghiệp được kỳ vọng sẽ trở thành một hướng đi thiết thực trong quan hệ Việt Nam–Canada. Việc kết hợp thế mạnh về công nghệ, nghiên cứu và nguồn cung của Canada với quy mô thị trường, năng lực sản xuất và vị trí kết nối khu vực của Việt Nam có thể tạo thêm các dự án thương mại, đầu tư và đổi mới sáng tạo cùng có lợi.