Thương mại tăng trưởng, hợp tác mở rộng
Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Israel (VIFTA) chính thức có hiệu lực từ ngày 17/11/2024, tạo thêm động lực cho quan hệ kinh tế giữa hai nước. Chia sẻ tại tọa đàm “Từ hợp tác công nghệ đến phát triển chuỗi giá trị: Phát huy vai trò của VIFTA trong nâng cao năng lực sản xuất của Việt Nam” diễn ra ngày 29/10, ông Lê Thái Hòa, Tham tán thương mại, phụ trách Thương vụ Việt Nam tại Israel cho biết, kim ngạch thương mại hàng hóa song phương tăng từ 3,25 tỷ USD năm 2024 lên 3,63 tỷ USD năm 2025. Trong 10 tháng đầu năm 2026, kim ngạch đạt 3,5 tỷ USD và dự kiến cả năm có thể đạt khoảng 4,4 tỷ USD, tăng trên 21% so với năm trước.
Đáng chú ý, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Israel ghi nhận mức tăng trưởng cao. Năm 2024, kim ngạch xuất khẩu đạt 795 triệu USD, tăng 25,9%; năm 2025 đạt 865 triệu USD, tăng 8,9%. Trong 10 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu đã vượt 1 tỷ USD, dự kiến cả năm đạt khoảng 1,3 tỷ USD, tăng khoảng 50,3% so với năm trước.
Theo ông Lê Thái Hòa, cùng với kết quả thương mại, ngày càng có nhiều doanh nghiệp, thương nhân và nhà đầu tư Israel quan tâm đến thị trường Việt Nam. Các doanh nghiệp Israel tích cực sang Việt Nam khảo sát thị trường, tham gia hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư, kết nối giao thương và tìm kiếm đối tác cung ứng.
“Đây là cơ sở để hai bên mở rộng hợp tác từ trao đổi hàng hóa sang đầu tư, chuyển giao công nghệ và phát triển năng lực sản xuất. Israel có thế mạnh về công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, nông nghiệp công nghệ cao và công nghệ năng lượng mới. Trong khi đó, Việt Nam có nhu cầu nâng cao hàm lượng công nghệ trong sản xuất công nghiệp, phát triển nông nghiệp bền vững và tăng cường khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu”, ông Lê Thái Hoà cho hay.
Theo thông tin từ Thương vụ Việt Nam tại Israel, Israel đã đầu tư khoảng 155 triệu USD vào khoảng 45 dự án tại Việt Nam, trong các lĩnh vực như bất động sản, du lịch, xử lý nước thải và thông tin viễn thông. Việt Nam cũng có các dự án đầu tư sang Israel với tổng vốn trên 78 triệu USD, tập trung vào nghiên cứu công nghệ mới và đầu tư mạo hiểm.
Những kết quả này cho thấy quan hệ kinh tế hai nước đã có nền tảng để phát triển sâu hơn. Tuy nhiên, để tận dụng đầy đủ lợi thế của VIFTA, hợp tác cần vượt ra ngoài hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư tài chính, hướng đến tạo lập năng lực công nghệ và giá trị sản xuất mới.
Từ tiếp nhận công nghệ đến nâng tầm chuỗi giá trị
Theo PGS.TS Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế, VIFTA có ý nghĩa không chỉ trong mở rộng thị trường mà còn ở khả năng tạo điều kiện để Việt Nam tiếp cận, hấp thụ và từng bước làm chủ công nghệ. Nếu chỉ dừng ở nhập khẩu máy móc, thiết bị và phần mềm, doanh nghiệp có thể nâng cao năng suất trước mắt nhưng vẫn phụ thuộc vào công nghệ bên ngoài.
Ngược lại, hợp tác nghiên cứu và phát triển với đối tác Israel có thể giúp doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực thiết kế, cải tiến công nghệ và phát triển sản phẩm. Đây là hướng đi quan trọng để chuyển từ gia công, lắp ráp sang tạo ra giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi sản xuất.
PGS.TS Ngô Trí Long cho rằng, Việt Nam cần tận dụng thế mạnh công nghệ, tri thức và đổi mới sáng tạo của Israel, đồng thời phát huy lợi thế về thị trường, lực lượng lao động và năng lực sản xuất trong nước. Sự kết hợp này cần được cụ thể hóa bằng các chương trình hợp tác nghiên cứu, phát triển sản phẩm và sản xuất chung, gắn với mục tiêu nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh.
“Chúng ta phải ghi nhận Hiệp định VIFTA như là một công cụ chiến lược nâng cao năng lực sản xuất, hình thành được năng lực công nghệ, hấp thụ được công nghệ, tự nghiên cứu, tự cải tiến và tự cạnh tranh bình đẳng và tự làm chủ công nghệ của mình trên cơ sở hợp tác hai bên”, PGS.TS Ngô Trí Long nhấn mạnh.
Dù vậy, quá trình hợp tác vẫn đối mặt với những khó khăn. Theo ông Lê Thái Hòa, sự khác biệt về tập quán kinh doanh, cách tiếp cận chuyển giao công nghệ và quan niệm về hợp tác đầu tư cũng khiến việc kết nối đối tác chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng.
Khoảng cách về năng lực hấp thụ công nghệ cũng là vấn đề cần lưu ý. Trong khi nhiều doanh nghiệp Israel có thế mạnh về nghiên cứu và phát triển, không ít doanh nghiệp Việt Nam vẫn đang trong quá trình chuyển đổi số, nâng cao năng lực tiếp nhận và thương mại hóa công nghệ cao.
Một điểm nữa, đó là thủ tục pháp lý và tiêu chuẩn kỹ thuật, mặc dù đã có Hiệp định VIFTA nhưng việc hiểu và đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt, thủ tục sở hữu trí tuệ hay quy định chuyển giao công nghệ của Israel vẫn là một thách thức lớn cho khối doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam.
Để tháo gỡ những điểm nghẽn này, Thương vụ Việt Nam tại Israel định hướng tăng cường tìm kiếm các đối tác có công nghệ đã được kiểm chứng trong thực tế, kết nối với doanh nghiệp Việt Nam có nhu cầu ứng dụng; thúc đẩy nghiên cứu chung, trao đổi chuyên gia và hợp tác giữa doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu hai nước.
Ông Lê Thái Hòa cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải chuyển từ mua bán công nghệ đơn thuần sang cùng phát triển. Doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động hình thành các liên doanh, hợp tác nghiên cứu và phát triển, từng bước nội địa hóa công nghệ phù hợp với điều kiện sản xuất trong nước. Những mô hình hợp tác thực tiễn trong nông nghiệp công nghệ cao, tự động hóa và sản xuất sạch cần được triển khai, đánh giá hiệu quả trước khi nhân rộng.
Bên cạnh đó, việc cải thiện kết nối logistics, tận dụng các tuyến bay thẳng giữa hai nước và phát huy vai trò của các cơ quan xúc tiến thương mại sẽ góp phần giảm chi phí, tăng cường kết nối doanh nghiệp và tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư.
Về dài hạn, Việt Nam có thể tận dụng mạng lưới các hiệp định thương mại tự do để trở thành trung tâm sản xuất, giúp công nghệ Israel tiếp cận thị trường ASEAN và các khu vực khác. Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết vẫn là nâng cao năng lực tiếp nhận, ứng dụng và phát triển công nghệ của doanh nghiệp trong nước.