Mô hình lồng bè nuôi tôm hùm, cá biển tại khu vực biển huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận Ảnh tư liệu: TTXVN
Tại Việt Nam, hoạt động nuôi cá lồng trên vùng ven biển đang phát triển với tốc độ nhanh, song lại thiếu quy hoạch tổng thể và chưa đảm bảo tuân thủ đầy đủ các quy định quản lý hiện hành. Hệ quả là môi trường tại nhiều khu vực nuôi bị suy thoái rõ rệt, đặc biệt là các hệ sinh thái biển nhạy cảm như rạn san hô, thảm cỏ biển và rừng ngập mặn. Bên cạnh đó, sự tích tụ ngày càng lớn của chất thải hữu cơ, chủ yếu từ phân và thức ăn dư thừa, cũng được xác định là nguyên nhân chính gây ra những biến đổi bất lợi đối với chất lượng môi trường nước biển.
Đứng trước thực trạng trên, nhóm nghiên cứu do Tiến sĩ Lê Văn Nam - Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng - Viện Hải dương học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, đảm nhiệm vai trò chủ nhiệm triển khai thực hiện đề tài cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm chất hữu cơ và dinh dưỡng phát sinh do hoạt động nuôi thủy sản lồng bè tập trung tại vùng biển Quảng Ninh”, được thực hiện từ tháng 1/2024 đến tháng 6/2026.
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành hoạt động lấy mẫu nước và trầm tích tại 25 điểm, phân bố tại các vùng nuôi trồng thủy sản trọng điểm của tỉnh Quảng Ninh để đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nước biển và trầm tích, đồng thời xem xét nguy cơ ô nhiễm môi trường biển tại một số khu vực nuôi trồng thủy sản lồng bè ven biển địa phương này. Việc đánh giá được thực hiện thông qua các thông số chất lượng nước, các chỉ số tổng hợp WQI (Chỉ số chất lượng nước), OPI (Chỉ số ô nhiễm hữu cơ), TRIX (Chỉ số trạng thái Phú dưỡng) và các chỉ tiêu đặc trưng cho chất lượng trầm tích, kết hợp với phân tích thống kê nhằm làm rõ đặc điểm, mức độ biến động và các yếu tố liên quan đến chất lượng môi trường tại khu vực nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu cho thấy hoạt động nuôi lồng bè có thể tạo ra những tác động nhất định đến môi trường biển, chủ yếu liên quan đến chất thải giàu chất hữu cơ và dinh dưỡng, rác thải sinh hoạt, vật liệu nhựa từ phao nổi và việc sử dụng thuốc, hóa chất trong quá trình nuôi.
Đối với môi trường nước biển, các chỉ số tổng hợp như chỉ số chất lượng nước (WQI), chỉ số ô nhiễm hữu cơ (OPI) và chỉ số dinh dưỡng (TRIX) phản ánh sự biến động giữa các đợt khảo sát. Kết quả phân tích thống kê và dựa trên mô hình Random Forest cho thấy các thông số dùng để đánh giá chất lượng môi trường nước như: NH4+ (amoni), COD (nhu cầu oxy hóa học, phản ánh mức độ ô nhiễm hữu cơ), DO (oxy hòa tan trong nước) và PO43- (phốt phát) đóng vai trò quan trọng trong việc chi phối biến động của các chỉ số OPI và TRIX, phản ánh mối liên hệ chặt chẽ giữa ô nhiễm hữu cơ, trạng thái oxy và mức độ dinh dưỡng của môi trường nước tại khu vực nuôi lồng bè ven biển Quảng Ninh.
Tiến sĩ Lê Văn Nam cho biết, tổng hợp các kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù chất lượng môi trường nước biển tại khu vực nuôi lồng bè ven biển Quảng Ninh có xu hướng cải thiện theo thời gian khảo sát, song vẫn tồn tại các dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ, dinh dưỡng và nguy cơ tích tụ trong trầm tích tại một số khu vực nuôi tập trung.
Nhằm giảm thiểu rủi ro ô nhiễm môi trường nước biển từ hoạt động nuôi trồng thủy sản nói chung và nuôi cá lồng bè nói riêng tại cùng biển Quảng Ninh, Tiến sĩ Lê Văn Nam đề xuất cần phải tăng cường quản lý hoạt động nuôi lồng bè theo quy hoạch, kiểm soát chặt chẽ thức ăn, thuốc và hóa chất sử dụng, đồng thời triển khai các biện pháp thu gom chất thải và quan trắc môi trường định kỳ nhằm giảm thiểu rủi ro ô nhiễm và hướng tới phát triển bền vững nghề nuôi trồng thủy sản biển tại Quảng Ninh. Nhóm nghiên cứu cũng đã thử nghiệm mô hình nuôi tổng hợp đa bậc dinh dưỡng (IMTA), kết hợp các đối tượng nuôi gồm cá biển, cá ăn rong, nhuyễn thể và rong biển. Trong mô hình này, cá là đối tượng nuôi chính và cũng là nguồn phát sinh chất hữu cơ, dinh dưỡng; cá dìa công được bố trí ở khu vực gần đáy để tận dụng nguồn vật chất tại tầng đáy; hàu và vẹm lọc các hạt vật chất lơ lửng trong nước; rong biển hấp thụ một phần chất dinh dưỡng hòa tan như nitơ và phốt pho.
Kết quả thử nghiệm bước đầu cho thấy mô hình có khả năng tận dụng một phần chất hữu cơ và chất dinh dưỡng phát sinh trong quá trình nuôi, góp phần giảm áp lực lên môi trường nước và trầm tích. Đây là hướng tiếp cận có triển vọng, góp phần thúc đẩy phát triển nuôi biển theo hướng bền vững. Tuy nhiên, để đánh giá đầy đủ hiệu quả và khả năng áp dụng của mô hình trong các điều kiện thực tế khác nhau, cần tiếp tục mở rộng nghiên cứu, tăng số lần thử nghiệm và thu thập thêm dữ liệu nhằm nâng cao độ tin cậy và tính chính xác của các kết quả đánh giá.
Đánh giá kết quả nghiên cứu, Giáo sư, Tiến sĩ Trịnh Văn Tuyên, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, ghi nhận nỗ lực của nhóm trong xây dựng và thử nghiệm mô hình IMTA; đồng thời cho rằng kết quả có cơ sở khoa học, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương và có thể là nguồn thông tin tham khảo cho Quảng Ninh trong phát triển nuôi lồng bè theo hướng giảm áp lực môi trường.