Cảng thông minh, hiện đại từ nền tảng vững chắc
Nghị quyết 20-NQ/TW sẽ tạo động lực để Cảng Hải Phòng tiếp tục phát triển dựa trên công nghệ, dữ liệu.
Theo thông tin của Công ty Cổ phần Cảng Hải Phòng, Cảng Hải Phòng bắt đầu hình thành từ năm 1857. Năm 1874, thực dân Pháp xây dựng Cảng Hải Phòng quy mô lớn với 6 nhà kho, gọi là Bến Sáu Kho và nơi đây thành quân cảng, thương cảng phục vụ khai thác thuộc địa. Việc khai thác cảng biển không chỉ góp phần giúp Hải Phòng thời điểm đó phát triển về kinh tế, dân số mà còn ghi những dấu mốc đặc biệt trong quá trình hình thành, phát triển thành phố. Công nhân Cảng Hải Phòng là những là lực lượng nòng cốt xây dựng cách mạng và là những “hạt giống đỏ” của Đảng bộ thành phố Hải Phòng do đồng chí Nguyễn Đức Cảnh làm Bí thư.
Những giai đoạn cách mạng tiếp theo, Cảng Hải Phòng vừa là nơi giao thương quốc tế, vừa là nơi vận chuyển hàng hóa quan trọng, chi viện cho miền Nam ruột thịt, cho nhân dân Cuba anh em. Giai đoạn phát triển mới, Cảng Hải Phòng giữ vững vị thế trụ cột, viết tên thành phố Hải Phòng trên bản đồ hàng hải quốc tế. Theo Chỉ số hiệu suất cảng container (CPPI) 2025 do Ngân hàng Thế giới và S&P Global Market Intelligence công bố tháng 6/2026, cụm cảng Hải Phòng xếp thứ 13 trong số các cảng container có hiệu suất khai thác tốt nhất thế giới, tăng 17 bậc so với năm 2024. Còn theo bảng xếp hạng của Tạp chí hàng hải Lloyd's List (Vương quốc Anh), Cảng Hải Phòng đứng thứ 29 trong Top 100 cảng container có sản lượng thông qua lớn nhất thế giới năm 2025.
Những thành tích trên có đóng góp quan trọng của Công ty Cổ phần Cảng Hải Phòng, đặc biệt trong định hướng xây dựng cảng thông minh, hiện đại, xanh và bền vững. Hiện bến cảng nước sâu số 3, số 4 của Công ty Cổ phần Cảng Hải Phòng nằm trong khu vực bến cảng nước sâu Lạch Huyện có năng lực đón 1,35 - 1,5 triệu TEU/năm và là một trong những cảng nước sâu hiện đại đưa hàng hóa Việt Nam đến thẳng bờ Tây Hoa Kỳ. Với vị thế, vai trò quan trọng như vậy, Nghị quyết 20-NQ/TW là cơ sở chính trị quan trọng để Đảng bộ Công ty Cổ phần Cảng Hải Phòng tiếp tục xây dựng những định hướng phát triển doanh nghiệp.
Theo ông Phạm Hồng Minh, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Cảng Hải Phòng, Nghị quyết 20-NQ/TW của Trung ương nâng tầm tư duy từ phát triển kinh tế biển sang xây dựng quốc gia biển mạnh. Đây là bước chuyển có ý nghĩa chiến lược, trong đó kinh tế biển được đặt trong tổng thể quản trị không gian biển, phát triển khoa học - công nghệ, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Chi nhánh Cảng Tân Vũ, Công ty Cổ phần Cảng Hải Phòng, vận hành theo mô hình thông minh, hiện đại.
Từ thực tiễn hoạt động của Cảng Hải Phòng, có thể thấy những định hướng này mở ra không gian phát triển rất lớn cho doanh nghiệp cảng biển. Việc đầu tư, mở rộng hệ thống cảng nước sâu Lạch Huyện, phát triển các bến container quốc tế và hoàn thiện hệ sinh thái logistics đang tạo nền tảng để Cảng Hải Phòng nâng cao năng lực tiếp nhận tàu lớn, mở rộng các tuyến vận tải quốc tế và gia tăng năng lực kết nối hàng hóa Việt Nam với thị trường thế giới.
Cũng theo ông Phạm Hồng Minh, “vươn ra biển lớn” vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp trong đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh và khẳng định chiến lược phát triển của Công ty Cổ phần Cảng Hải Phòng. Đối với Công ty Cổ phần Cảng Hải Phòng, lợi ích từ Nghị quyết không chỉ nằm ở việc mở rộng quy mô khai thác cảng mà quan trọng hơn là tạo môi trường chính sách thuận lợi để phát triển đồng bộ cảng biển, logistics, hạ tầng kết nối và các dịch vụ giá trị gia tăng. Đây là điều kiện để Cảng tiếp tục thu hút các tuyến dịch vụ quốc tế, gia tăng sản lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh và từng bước hình thành trung tâm logistics, trung chuyển container quốc tế hiện đại của khu vực.
Hoạt động xếp dỡ hàng hóa tại Chi nhánh Cảng Tân Vũ, Công ty Cổ phần Cảng Hải Phòng.
Đặc biệt, định hướng phát triển kinh tế biển xanh, cảng xanh, cảng thông minh và chuyển đổi số trong Nghị quyết 20-NQ/TW sẽ tạo động lực để Cảng Hải Phòng tiếp tục phát triển dựa trên công nghệ, dữ liệu, năng suất và chất lượng dịch vụ. Thực tế, Cảng Hải Phòng đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, tăng cường kết nối dữ liệu với các cơ quan quản lý, triển khai các nền tảng Big Data, Smart TOS, ERP, IoT và chuẩn bị xây dựng hệ sinh thái Smart Port. Cùng với đó, nhiều dự án mở rộng tiếp tục được triển khai nhằm gia tăng năng lực khai thác và phát triển logistics, trong đó có dự án Cảng tổng hợp Bạch Đằng với 3 cầu tàu. Dự án này sẽ nâng cao năng lực thông quan hàng hóa, đồng thời từng bước hình thành hệ sinh thái dịch vụ cảng biển hiện đại.
Bên cạnh đầu tư hạ tầng, Công ty Cổ phần Cảng Hải Phòng tiếp tục mở rộng thị trường, phát triển mạng lưới khách hàng. Hiện Cảng Hải Phòng đã ký kết hợp đồng với nhiều hãng tàu lớn, thu hút thêm các tuyến dịch vụ mới, đồng thời đẩy mạnh xúc tiến thương mại tại châu Âu, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) và Trung Quốc. Các hoạt động này góp phần tăng cường kết nối với cộng đồng doanh nghiệp các quốc gia, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh, hình ảnh của Cảng Hải Phòng trên thị trường quốc tế và vị thế của Hải Phòng trong mạng lưới logistics khu vực, ông Phạm Hồng Minh thông tin.
Cái nôi đào tạo nguồn nhân lực hàng hải
Năm 2026, Cảng Hải Phòng đặt mục tiêu phấn đấu sản lượng 60 triệu tấn, trong đó container đạt 3 triệu TEU. Ảnh: Minh Huệ/TTXVN
Trường Đại học Hàng hải Việt Nam thành lập năm 1956. Đây là ngôi trường hàng đầu của đất nước trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt về lĩnh vực hàng hải và kinh tế biển. Nhiều sĩ quan hàng hải, thuyền viên được đào tạo đang làm việc trên các đội tàu biển hiện đại trong nước và thế giới. Trường cũng là đơn vị cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
Tháng 12/2000, Nhà trường đã góp phần không nhỏ đưa Việt Nam trở thành một trong 73 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tiên trên thế giới được công nhận vào Danh sách Trắng (White List) của Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) và được công nhận là thành viên đầy đủ thứ 44 của Hiệp hội các Trường Đại học Hàng hải Quốc tế (IAMU) từ tháng 8/2004.
Đặc biệt, ngày 5/9/2025, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1901/QĐ-TTg phê duyệt Đề án xây dựng Trường Đại học Hàng hải Việt Nam là trường trọng điểm quốc gia về đào tạo, nghiên cứu và phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Theo đó, đến năm 2030 đưa Trường Đại học Hàng hải Việt Nam trở thành một trong top 5 trung tâm đào tạo nguồn nhân lực hàng hải, kinh tế biển chất lượng cao hàng đầu ASEAN; đến năm 2035 phấn đấu thuộc tốp 3 ASEAN, với một số ngành, lĩnh vực lọt vào top 10 châu Á; định hướng đến năm 2045 tiến tới ngang tầm các trường đại học hàng hải của các nước phát triển trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương và trên thế giới.
PGS.TS Phạm Xuân Dương (thứ hai, từ trái sang), Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, tham quan dự án nghiên cứu của sinh viên nhà trường.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Xuân Dương, Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là một định hướng chiến lược có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện tầm nhìn dài hạn của Đảng về đại dương và kinh tế biển. Đặc biệt, Nghị quyết xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao là những động lực chính để phát triển quốc gia biển mạnh. Nghị quyết đã đặt đúng trọng tâm vào đào tạo chuyên sâu về đại dương học, khoa học, kỹ thuật, công nghệ biển và quản trị biển, đồng thời chú trọng xây dựng đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn sâu và khả năng hội nhập quốc tế. Nghị quyết 20-NQ/TW còn tạo động lực để các trường đại học tiếp tục đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy, tăng cường ứng dụng công nghệ và gắn đào tạo với thực tiễn, qua đó góp phần chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Xuân Dương thông tin, hiện Trường Đại học Hàng hải Việt Nam có 51 giáo sư và phó giáo sư, 238 tiến sĩ cùng hàng trăm thuyền trưởng, máy trưởng, sĩ quan hàng hải dạn dày kinh nghiệm trên các đội tàu biển uy tín trên thế giới, các chuyên gia trong lĩnh vực khoa học hàng hải, tự động điều khiển, đóng tàu, công trình biển và thềm lục địa, môi trường biển, quản lý vận tải biển và logistics… Các thầy, cô giáo và sinh viên Nhà trường đạt nhiều thành tựu nổi bật trong nghiên cứu quốc tế và các cuộc thi uy tín thế giới. Nổi bật là, ngày 30/7/2026, tại Vòng Chung kết Thế giới Cuộc thi Vô địch Tin học Văn phòng Thế giới MOS (Microsoft Office Specialist) World Championship 2026 được tổ chức tại thành phố Anaheim, bang California, Hoa Kỳ, sinh viên Nguyễn Mai Chi, Viện Đào tạo Quốc tế, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, đã xuất sắc giành Huy chương Vàng và trở thành Nhà vô địch Thế giới nội dung Microsoft Excel 365 Apps. Trong các năm từ 2020 đến nay, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam đã liên tục có 9 quán quân quốc gia tham gia Đội tuyển Việt Nam tham dự Vòng thi Thế giới tại Mỹ và giành được 1 Huy chương Vàng (2026), 2 Huy chương Bạc (các năm 2020 và 2023). Thành tích rực rỡ này là niềm tự hào của Trường Đại học Hàng hải Việt Nam và Đội tuyển MOS Việt Nam, khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và năng lực hội nhập của sinh viên Việt Nam trên đấu trường quốc tế, đồng thời là nền tảng quan trọng để Nhà trường triển khai Nghị quyết 20-NQ/TW hiệu quả.
Chương trình đào tạo hiện đại, phát huy tinh thần chủ động nghiên cứu của sinh viên được đặc biệt chú trọng tại Trường Đại học Hàng hải Việt Nam
Từ thực tiễn đào tạo nhân lực hàng hải, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Xuân Dương chia sẻ, yêu cầu của Nghị quyết 20-NQ/TW đặt ra nhiệm vụ rất lớn đối với các cơ sở giáo dục đại học, nhất là đối với chương trình đào tạo. Theo đó, chương trình đào tạo cần thường xuyên được cập nhật theo nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh tế biển như: thiết kế đóng mới và sửa chữa tàu biển, công trình ngoài khơi, thềm lục địa, xây dựng, quản lý và khai thác cảng biển, đường thủy nội địa, bảo vệ môi trường biển, logistics, vận tải biển và các lĩnh vực kinh tế biển mới. Người học cần được trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng, thái độ một cách thực chất, đồng thời tăng cường liên kết giữa nhà trường, doanh nghiệp, các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành và các tổ chức nghiên cứu để người học được tiếp cận sớm với môi trường sản xuất, công nghệ và những yêu cầu nghề nghiệp thực tế. Đối với lĩnh vực hàng hải, việc ứng dụng công nghệ mô phỏng, phòng thực hành hiện đại và các hệ thống đào tạo số sẽ giúp sinh viên nâng cao kỹ năng xử lý tình huống, tiếp cận công nghệ vận hành tàu, cảng và logistics tiên tiến, qua đó rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và thực tiễn, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Xuân Dương nhấn mạnh.