Cùng với đó, ngành nông nghiệp và môi trường đẩy mạnh quản lý bằng dữ liệu, hướng tới khắc phục triệt để các tồn tại, góp phần gỡ cảnh báo “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu (EC).
Tại phiên họp thứ 36 của Ban Chỉ đạo quốc gia về chống khai thác IUU và phát triển bền vững ngành thủy sản mới đây, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu toàn hệ thống chính trị thực hiện nghiêm “5 không”: không phát sinh tàu cá bị nước ngoài bắt giữ; không để tàu không đủ điều kiện tham gia hoạt động; không để vụ việc vi phạm quy định về thiết bị giám sát hành trình (VMS) kéo dài mà không được xử lý triệt để; không để lô hàng thủy sản không truy xuất được nguồn gốc; không để số liệu báo cáo sai lệch với dữ liệu và hồ sơ thực tế.
Chỉ đạo này đặt ra yêu cầu tăng cường kiểm soát thực chất hoạt động khai thác thủy sản, từ điều kiện pháp lý của từng tàu cá, giám sát hành trình trên biển đến kiểm soát sản lượng qua cảng và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
Tại An Giang, công tác quản lý đội tàu được triển khai theo hướng siết chặt kỷ cương, đặc biệt đối với tàu cá “ba không” và các phương tiện có nguy cơ cao vi phạm. Tỉnh tập trung rà soát, khoanh vùng và theo dõi sát từng tàu, ưu tiên các trường hợp hết hạn giấy phép khai thác, hết hạn đăng kiểm, mất kết nối VMS dài ngày, có nguy cơ vi phạm vùng biển nước ngoài hoặc đang nằm bờ.
Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang Lê Hữu Toàn cho biết, trước khi cấp giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật tàu cá, giấy chứng nhận đăng ký và giấy phép khai thác thủy sản, cơ quan chức năng kiểm tra, kẻ vẽ số đăng ký và đánh dấu tàu cá theo đúng quy định, bảo đảm phương tiện được nhận diện và quản lý chặt chẽ.
Thông qua hệ thống VMS, Sở Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với các đơn vị chức năng, chính quyền địa phương lập danh sách, tổ chức quản lý những tàu đã đăng ký nhưng chưa đủ điều kiện hoạt động. Danh sách tàu không đủ điều kiện được rà soát, cập nhật và cung cấp cho các lực lượng liên quan để theo dõi, giám sát, kiểm tra và xử lý theo quy định.
Đáng chú ý, An Giang công khai danh sách tàu cá không đủ điều kiện hoạt động tại cộng đồng dân cư, đồng thời phân công tổ chức, cá nhân phụ trách theo dõi. Vị trí neo đậu và tình trạng thực tế của từng phương tiện được cập nhật hằng tuần bằng hình ảnh. Chủ tàu được yêu cầu tháo dỡ toàn bộ ngư cụ, trang thiết bị đánh bắt khi chưa hoàn thành các thủ tục pháp lý. Đối với những tàu không còn khả năng hoặc không tiếp tục tham gia khai thác, tỉnh tiến hành rà soát, xóa đăng ký theo quy định.
Cách làm này góp phần tăng cường giám sát tại cơ sở, hạn chế nguy cơ tàu cá không đủ điều kiện tiếp tục hoạt động, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong quản lý phương tiện. Việc theo dõi không chỉ dựa trên hồ sơ mà còn gắn với tình trạng thực tế của từng tàu, giúp giảm nguy cơ bỏ sót phương tiện có khả năng phát sinh vi phạm.
Trong kiểm soát hoạt động tại cảng và truy xuất nguồn gốc, An Giang cũng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ. Đến nay, 100% tàu cá ra, vào cảng trên địa bàn tỉnh thực hiện khai báo bắt buộc trên hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản điện tử (eCDT). Dữ liệu về nhật ký khai thác, nhật ký thu mua, chuyển tải và báo cáo sản lượng được lưu trữ số hóa, phục vụ đối chiếu, kiểm tra và truy xuất nguồn gốc thủy sản.
Tại Khánh Hòa, địa phương tập trung nguồn lực khắc phục các tồn tại trong quản lý nghề cá, kiểm soát hoạt động khai thác từ bờ đến cảng và trên biển, quyết tâm không để phát sinh tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài.
Trong “Tháng cao điểm”, tỉnh tập trung xử lý những hạn chế liên quan đến quản lý đội tàu, cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia VNFishbase, hệ thống VMS, eCDT, truy xuất nguồn gốc và hồ sơ vi phạm. Một trong những yêu cầu trọng tâm là kiên quyết không để tàu cá không đủ điều kiện xuất bến, tham gia khai thác.
Thực tiễn tại An Giang và Khánh Hòa cho thấy, việc siết chặt quản lý đội tàu cần đi đôi với kiểm soát hoạt động thực tế và đối chiếu thông tin trên các hệ thống. Đây cũng là hướng triển khai được Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định nhằm khắc phục những hạn chế trong quản lý nghề cá, nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật và bảo đảm tính thống nhất của dữ liệu.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, công tác chống khai thác IUU đang từng bước chuyển từ phương thức quản lý hành chính sang quản trị nghề cá dựa trên dữ liệu, quản lý rủi ro và trách nhiệm giải trình; từ kiểm tra từng công đoạn sang kiểm soát chuỗi dữ liệu, theo dõi toàn bộ quá trình xử lý vi phạm và kiểm chứng kết quả thực hiện. Bước đầu hình thành công cụ điều hành chống khai thác IUU trên phạm vi quốc gia, giúp theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện của từng địa phương, nhận diện các nhóm tàu, vụ việc có nguy cơ để tập trung chỉ đạo, kiểm tra. Đến ngày 30/9, có 80.003 tàu cá từ 6 m trở lên đã được đăng ký, cập nhật trên VNFishbase; trên 96% tàu cá có giấy phép khai thác còn hiệu lực.
Tuy nhiên, các địa phương phải tiếp tục rà soát, phân loại tàu hết hạn giấy phép, đã xóa đăng ký, ngừng hoạt động hoặc có nguy cơ vi phạm; xác minh tình trạng thực tế và có biện pháp quản lý phù hợp, không để tàu không đủ điều kiện tiếp tục khai thác.
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng, các địa phương cần tăng cường khai thác dữ liệu VMS, đối chiếu với thông tin tàu ra, vào cảng, nhật ký khai thác và dữ liệu eCDT để xác minh các trường hợp mất kết nối, có dấu hiệu vượt ranh giới cho phép hoặc có hành trình bất thường. Quá trình xử lý phải làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm liên quan, phân biệt sự cố kỹ thuật với hành vi vi phạm đã được xác minh, không để vụ việc kéo dài do chậm đối soát dữ liệu.
Đối với truy xuất nguồn gốc, các địa phương cần kiểm soát chặt sản lượng thực tế bốc dỡ qua cảng, đối chiếu với nhật ký khai thác, dữ liệu VMS và eCDT. Những trường hợp bất thường về hành trình, thời gian, loài thủy sản, sản lượng hoặc địa điểm bốc dỡ phải được xác minh kịp thời. Lô hàng không đáp ứng yêu cầu khai báo eCDT theo quy định không được cấp giấy xác nhận nguyên liệu thủy sản khai thác (SC).
Ngành thủy sản hướng tới kiểm soát xuyên suốt chuỗi dữ liệu, từ điều kiện hoạt động của tàu, giám sát hành trình, xuất nhập bến, sản lượng bốc dỡ đến xác nhận nguồn gốc và doanh nghiệp, lô hàng. Theo Thứ trưởng Võ Văn Hưng, kết quả chống khai thác IUU phải được chứng minh bằng hồ sơ, tài liệu kiểm chứng và dữ liệu cập nhật đầy đủ, chính xác trên các hệ thống quản lý; việc đưa tàu vào danh sách theo dõi không thay thế trách nhiệm xác minh, xử lý vi phạm.
Việc tăng cường đối chiếu dữ liệu gắn với kiểm tra thực tế, phân định rõ trách nhiệm và xử lý vi phạm đến cùng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nghề cá. Đây cũng là cơ sở để các địa phương thực hiện nghiêm chỉ đạo “5 không”, ngăn ngừa vi phạm từ sớm, từ xa và cùng cả nước quyết tâm gỡ cảnh báo “thẻ vàng” IUU.