Khám phá văn hóa độc đáo của đồng bào Mơ-nâm tại Kon Tum

Là một nhánh của dân tộc Xê-đăng, người Mơ-nâm chủ yếu cư trú tại huyện miền núi Kon Plong, tỉnh Kon Tum. Tập tục văn hóa, ẩm thực khác lạ so với các dân tộc bản địa đã làm nên những nét riêng của người Mơ-nâm.
Mặc dù du lịch chưa phải là thế mạnh của huyện Kon Plong nhưng những nét văn hóa đặc trưng của đồng bào Mơ-nâm là một trong những điểm thu hút du khách trong hành trình khám phá Kon Tum.
Khám phá văn hóa độc đáo của đồng bào Mơ-nâm tại Kon Tum ảnh 1

Điệu múa truyền thống của đồng bào Mơ-nâm. Ảnh: Dương Giang/TTXVN

A In - già làng Kon Chênh, xã Măng Cành (huyện Kon Plong) đã sống gần hết cuộc đời tại làng Kon Chênh. Già làng A In say sưa nói về những nét văn hóa đặc trưng của người Mơ-nâm. Đầu tiên là nhà lúa. Cấu trúc nhà lúa của người Mơ-nâm tương tự như mái nhà sàn, chỉ có điều được thu nhỏ lại để đựng vừa những bao lúa mới gặt, thực phẩm dự trữ hay hạt giống chờ đến mùa vụ sau. Nhà lúa được đồng bào cất ngay cạnh nhà sàn lớn để tiện việc lấy lúa và bảo vệ. Điều đặc biệt là các cột nhà lúa được bà con Mơ-nâm bọc tôn trơn, tránh chuột, sóc theo chân cột leo lên phá hoại. Tùy theo lượng lúa thu hoạch của từng hộ gia đình mà mỗi nhà có từ 2 - 3 nhà lúa.Mắm Giố là đặc sản ẩm thực của người Mơ-nâm. Mắm Giố của người Mơ-nâm giống món mắm chua của người Kinh; được làm chủ yếu từ thịt lợn hoặc thịt trâu, có khi là cua, cá và cơm. Thịt tươi được thái nhỏ miếng vừa ăn, nếu là cua, cá cũng đem rửa sạch, để ráo nước. Nấu chín gạo rẫy, đem trải đều lên nia, đến khi cơm gần nguội thì cho thịt hoặc cá, cua vào trộn đều, không cho thêm bất kì gia vị gì. Sau đó, cho hỗn hợp này vào ghè, bọc kỹ lại bằng lá chuối hay bằng bao ni-lông. Nếu Mắm Giố được làm từ thịt trâu, lợn thì khoảng 1 tháng mới lấy ra ăn được, còn nếu làm từ cá suối thì khoảng nửa tháng, làm từ cua thì khoảng 1 tuần. Mắm Giố làm đúng phải có mùi chua của gạo lên men, mùi của thịt, cá ủ lâu ngày. Khi ăn, Mắm Giố được nấu chín lại để ăn chung với cơm, cũng có thể nấu canh chung với rau rừng, rau lang, rau dớn… Nét đặc trưng trong đời sống văn hóa tinh thần của người Mơ-nâm ở vùng núi Kon Plong là chiếc Tà Vẩu. Tà Vẩu được làm từ đốt nứa già, 2 đầu thanh nứa để rỗng, lấy sáp ong bịt kín một đầu; phần giữa thân nứa, người chế tác nhạc cụ đục một khe nhỏ hình chữ nhật rồi dùng sáp ong gắn vào đó một nan nứa mỏng và nhỏ (lưỡi Tà Vẩu) để tạo âm thanh. Âm thanh phát ra nghe réo rắt vui tai, hòa quyện cùng tiếng cồng chiêng như nhạc khúc núi rừng. Tà Vẩu còn được dùng để thổi đệm trong các nhạc khúc hát giao duyên của nam nữ người Mơ-nâm.Ông Trần Văn Nết - Chủ tịch UBND xã Măng Cành cho biết: Người Mơ-nâm tại Măng Cành hầu hết vẫn giữ được các nét văn hóa đặc trưng, đó cũng là lý do mỗi năm có hàng trăm lượt khách du lịch đến tìm hiểu về văn hóa bản địa. Sắp tới, chính quyền có những hướng bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời hướng dẫn đồng bào cách khai thác các tiềm năng du lịch địa phương.
Hồng Điệp (TTXVN)

Dành cho bạn

Xây dựng ‘lũy thép lòng dân’ nơi biên cương Tổ quốc

Xây dựng ‘lũy thép lòng dân’ nơi biên cương Tổ quốc

Các mô hình, chương trình, phong trào Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tham gia xây dựng biên giới vững mạnh không chỉ làm thay đổi diện mạo vùng biên giới, mà còn bồi đắp niềm tin sắt son của đồng bào các dân tộc thiểu số đối với Đảng, Nhà nước.
Nghị quyết số 20-NQ/TW: An Giang vươn ra biển lớn từ hệ thống 8 đô thị động lực

Nghị quyết số 20-NQ/TW: An Giang vươn ra biển lớn từ hệ thống 8 đô thị động lực

Thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về “Xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh”, tỉnh An Giang tập trung nguồn lực, quyết tâm vươn ra biển lớn từ việc quy hoạch và phát triển các đô thị động lực. Bước đi chiến lược này không chỉ tạo lập tâm điểm tăng trưởng mới cho địa phương mà còn khẳng định tầm nhìn dài hạn, góp phần đưa cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long bứt phá, kết nối mạnh mẽ với không gian kinh tế biển quốc tế.
Gieo sức sống mới cho văn hóa nghệ thuật Khmer

Gieo sức sống mới cho văn hóa nghệ thuật Khmer

Văn hóa, nghệ thuật Khmer chỉ thực sự được gìn giữ khi còn hiện diện trong đời sống cộng đồng và được thế hệ trẻ tiếp nối. Từ tiếng nhạc ngũ âm, điệu múa dân gian đến chữ viết, kiến trúc chùa, mỗi giá trị đều cần một môi trường để sống, được trao truyền và thích nghi với nhịp sống mới mà không mất đi bản sắc vốn có.