Thủy điện vùng Tây Nguyên tham gia chống hạn

Khai thác hợp lý hồ chứa

Cứ vào mùa khô, do dung tích các hồ chứa có hạn nên việc điều tiết, khai thác hồ chứa thủy điện một cách hợp lý có vai trò vô cùng quan trọng trong việc vừa đảm bảo cung cấp điện cho hệ thống điện quốc gia, vừa cấp nước cho hạ du phục vụ sản xuất và sinh hoạt.
Ông Trương Công Hồng, Phó Giám đốc Sở Công Thương Đắk Lắk cho biết, qua quá trình vận hành có thể thấy nhà máy thủy điện (NMTĐ) Buôn Tua Sah đã đảm bảo phục vụ tưới tiêu của người dân dọc sông Srêpôk. Vùng hạ du nơi đây trồng được ngô, khoai mà không bị ảnh hưởng của ngập lụt. Tây Nguyên vào mùa khô đến tháng 4 là tháng kiệt của dòng sông thì đến tháng 12 hồ Buôn Tua Sah đã tích được nước, tăng giờ vận hành của các nhà máy thủy điện phía dưới, đảm bảo cung cấp điện cho sản xuất và sinh hoạt của người dân vùng hạ du. Nếu thủy điện Buôn Tua Sah ngừng phát điện thì các NMTĐ phía dưới cũng phải ngừng theo vì không có nước.
Khai thác hợp lý hồ chứa ảnh 1

Nhiều diện tích lúa, hoa màu và cây công nghiệp dài ngày ở Tây Nguyên đã được cứu sống nhờ nguồn nước từ các hồ thủy điện. Ảnh: Ngọc Hà - TTXVN

Vì vậy, mục tiêu đặt ra trong các tháng còn lại của mùa kiệt năm nay đối với Công ty Thủy điện Buôn Kuốp là đảm bảo cung cấp nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt cho nhân dân vùng hạ du các hồ chứa, nhất là hồ chứa Buôn Tua Srah. Đối với hồ chứa Buôn Kuốp và Srêpôk 3 sẽ điều tiết lưu lượng xả cân bằng với lưu lượng nước đến hồ.
Công ty Thủy điện Buôn Kuốp cũng được phép tách các nhà máy ra khỏi thị trường điện kể từ ngày 8/3 vừa qua để chủ động hơn trong việc đáp ứng nhu cầu phục vụ nước sinh hoạt và sản xuất vùng hạ du trong mùa khô năm 2016. “Căn cứ tình hình lưu lượng nước về các hồ chứa và nhu cầu sử dụng nước của các địa phương, công ty sẽ kiến nghị với Trung tâm Điều độ hệ thống điện Quốc gia có chế độ khai thác hồ chứa hợp lý”, Phó Giám đốc Nguyễn Tấn Triết chia sẻ.

Ông Doãn Gia Lộc Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Krông Nô nhận xét. Từ khi các NMTĐ đi vào hoạt động thì bản thân huyện đã khai thác được hết diện tích bán ngập từ trước và tăng được diện tích sản xuất như hiện nay lên trên 43.000 ha. Hai năm trở lại đây, ngay từ đầu tháng 12 năm trước, vào mùa hạn, căn cứ vào lịch sản xuất, Ban chỉ đạo phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn tỉnh Đắk Lắk cùng các đơn vị liên quan đã xây dựng kế hoạch điều tiết nước từ các NMTĐ để các địa phương chủ động bơm tưới. Ông Nguyễn Đăng Hà, Phó Giám đốc Công ty Phát triển Thủy điện Sê San cho biết, về cơ bản, UBND hai tỉnh Kon Tum và Gia Lai đã thống nhất giảm lưu lượng xả về hạ du theo số liệu tại các báo cáo của công ty, vì không ảnh hưởng đến yêu cầu cấp nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt khu vực hạ du. Đến nay, UBND tỉnh Kon Tum đang xem xét để ban hành lệnh vận hành hồ Sê San 4 trong thời gian tới cho phù hợp.

Nhận định lượng nước các hồ dự trữ không đủ để xả về hạ du theo yêu cầu là 195 m3/s trong mùa cạn, Công ty Phát triển Thủy điện Sê San đã báo cáo UBND tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Bộ Tài Nguyên và Môi trường về tình hình thiếu nước và đề xuất lưu lượng xả về hạ du để đảm bảo duy trì được dòng chảy đến hết mùa kiệt.

Đối với các công trình thủy điện Sông Ba Hạ, Sông Hinh, KrôngH’Năng, do tình hình lưu lượng nước về hồ chứa thủy điện không đảm bảo duy trì mực nước hồ theo Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Ba, theo ông Đặng Văn Tuần, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Thủy điện Sông Ba Hạ, Công ty điều tiết vận hành chạy máy phát điện nhiều lần trong ngày để các trạm bơm đủ thời gian bơm nước chống hạn và cố gắng đáp ứng khả năng cao nhất cung cấp nước chống hạn theo tình hình lưu lượng nước thực tế về hồ và theo yêu cầu của địa phương.
Riêng hệ thống thủy nông Đồng Cam, công trình lấy nước trên sông Ba, cấp nước tưới cho vụ đông xuân từ ngày 1/12 đến ngày 15/4 năm sau và vụ hè thu từ ngày 15/5 đến ngày 15/9 hàng năm, NMTĐ Sông Ba Hạ phải phối hợp vận hành phát điện đảm bảo lưu lượng thường xuyên 35 - 40 m3/s. Huyện Sơn Hòa (Phú Yên), diện tích tưới dọc sông Ba là 340 ha với lưu lượng cần 0,7 m3/s nhưng NMTĐ Sông Ba Hạ phải cung cấp khoảng 40 m3/s.
Trong những năm qua, Công ty Thủy điện Ialy đã phối hợp tốt với địa phương trong việc thực hiện Quy chế phối hợp trong điều tiết nước và sản xuất trên đất bán ngập lòng hồ thủy điện Ialy với các xã thuộc huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum. Hàng năm công ty cũng luôn tuân thủ quy định của Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Sê San, Quy trình vận hành đơn hồ và các quy định về điều tiết hồ chứa.
Phó Giám đốc công ty Lê Văn Thuyết cho biết, trong mùa khô hàng năm, công ty đã thông báo cho địa phương lưu lượng xả trong 10 ngày trước, dự kiến lưu lượng nước về, xả về hạ du trong 10 ngày tới. Riêng mùa khô năm nay, Công ty Thủy điện Ialy chủ động cùng các NMTĐ trên lưu vực sông Sê San phối hợp với địa phương điều tiết các hồ chứa để đáp ứng tốt nhất nhu cầu sử dụng nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt khu vực hạ du. Dự kiến lưu lượng trung bình xả nước về hạ du từ tháng 3 - 6/2016 là khoảng 143 m3/s.
Mai Phương - Văn Thông - Viết Tôn

Dành cho bạn

Xây dựng ‘lũy thép lòng dân’ nơi biên cương Tổ quốc

Xây dựng ‘lũy thép lòng dân’ nơi biên cương Tổ quốc

Các mô hình, chương trình, phong trào Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tham gia xây dựng biên giới vững mạnh không chỉ làm thay đổi diện mạo vùng biên giới, mà còn bồi đắp niềm tin sắt son của đồng bào các dân tộc thiểu số đối với Đảng, Nhà nước.
Nghị quyết số 20-NQ/TW: An Giang vươn ra biển lớn từ hệ thống 8 đô thị động lực

Nghị quyết số 20-NQ/TW: An Giang vươn ra biển lớn từ hệ thống 8 đô thị động lực

Thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về “Xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh”, tỉnh An Giang tập trung nguồn lực, quyết tâm vươn ra biển lớn từ việc quy hoạch và phát triển các đô thị động lực. Bước đi chiến lược này không chỉ tạo lập tâm điểm tăng trưởng mới cho địa phương mà còn khẳng định tầm nhìn dài hạn, góp phần đưa cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long bứt phá, kết nối mạnh mẽ với không gian kinh tế biển quốc tế.
Gieo sức sống mới cho văn hóa nghệ thuật Khmer

Gieo sức sống mới cho văn hóa nghệ thuật Khmer

Văn hóa, nghệ thuật Khmer chỉ thực sự được gìn giữ khi còn hiện diện trong đời sống cộng đồng và được thế hệ trẻ tiếp nối. Từ tiếng nhạc ngũ âm, điệu múa dân gian đến chữ viết, kiến trúc chùa, mỗi giá trị đều cần một môi trường để sống, được trao truyền và thích nghi với nhịp sống mới mà không mất đi bản sắc vốn có.