Hội thảo quốc gia lần thứ hai: “Tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông: Lịch sử, địa chính trị và luật pháp quốc tế”

Ngày 26/4/2011, tại Hà Nội, Chương trình nghiên cứu Biển Đông, Học viện Ngoại giao, đã tổ chức Hội thảo Quốc gia lần thứ hai về Biển Đông với chủ đề “Tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông: Lịch sử, địa chính trị và luật pháp quốc tế”.

Ngày 26/4/2011, tại Hà Nội, Chương trình nghiên cứu Biển Đông, Học viện Ngoại giao, đã tổ chức Hội thảo Quốc gia lần thứ hai về Biển Đông với chủ đề “Tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông: Lịch sử, địa chính trị và luật pháp quốc tế”. Đây là cơ hội để giới học giả nghiên cứu Biển Đông trong cả nước chia sẻ thông tin, đồng thời tập hợp rộng rãi các ý kiến, đánh giá, nhận định về các diễn biến gần đây và những hệ lụy ở khu vực Biển Đông.

Về các cơ sở pháp lý và lịch sử chủ quyền của Việt Nam và các bên liên quan, các đại biểu cho rằng Việt Nam có nhiều bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để chứng minh chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa. Việt Nam đã chiếm hữu thực sự, hòa bình, và thực thi liên tục chủ quyền của mình ở đây.

Về yêu sách của Philíppin, tham luận tại phiên 1 cho rằng Philíppin có điểm mạnh là nước này về mặt địa lý gần quần đảo Trường Sa nhất so với Trung Quốc, Việt Nam, Malaixia và Brunây. Tuy nhiên hình thức thụ đắc năm 1956 của Croma là của cá nhân, không phải trên danh nghĩa nhà nước.

Về cơ sở của Trung Quốc, các đại biểu cho rằng luận điểm của Trung Quốc về chủ quyền tại Biển Đông dựa trên hình thức thụ đắc lãnh thổ chiếm hữu và hình thức thụ đắc lãnh thổ bằng điều ước quốc tế. Về hình thức thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm hữu, một số ý kiến phát biểu cho rằng Trung Quốc đã không thỏa mãn yêu cầu chiếm hữu hòa bình, thực sự và dưới danh nghĩa nhà nước. Các học giả cũng cho rằng hệ thống địa danh của Trung Quốc không dựa trên yếu tố lịch sử, việc tập hợp các địa danh không kèm văn bản gốc. Một số công trình nghiên cứu của Trung Quốc khi trích dẫn dựa trên các tư liệu cổ, thường trích dẫn một cách ngắt đoạn, còn một số khác đúng nguồn thì lại hiểu sai về nội dung.

Về các diễn biến gần đây ở khu vực Biển Đông, các đại biểu cho rằng đã có thay đổi trên một số bình diện. Trước hết, vấn đề Biển Đông từ chỗ chỉ là tranh chấp giữa các nước trong khu vực đã trở thành một trong những vấn đề quốc tế, được đem ra bàn thảo ở những diễn đàn đa phương quốc tế như ARF… Thứ hai là thay đổi từ ASEAN. Hiện nay vấn đề Biển Đông đã trở thành vấn đề khá nổi bật trong chương trình nghị sự của ASEAN, thể hiện rõ quyết tâm chuyển từ Tuyên bố về Cách ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) sang Bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông (COC). Thứ ba là lập trường của Trung Quốc cũng đã có nhiều thay đổi. Hiện nay, dường như Trung Quốc có xu hướng sử dụng Công ước về Luật Biển nhiều hơn, có thay đổi trong hành vi ngoại giao, cũng như có một số điểm mới trên thực địa. Thứ tư, quá trình đàm phán về vấn đề Biển Đông cũng bắt đầu có nhiều chuyển biến, các nước bắt đầu đàm phán trực tiếp về COC.

Về vấn đề hợp tác trong khu vực, các đại biểu nhất trí rằng Biển Đông không chỉ là vấn đề xung đột, tranh chấp, đối đầu mà còn là cơ hội để các nước tăng cường hợp tác.

Về các kịch bản có thể diễn ra ở Biển Đông trong thời gian tới, các học giả cho rằng có thể có 4 kịch bản xảy ra: Một là, tình hình khu vực sẽ tốt hơn hiện nay nếu như các bên, đặc biệt là Trung Quốc, hành xử đúng theo những gì mình đã nói, đó là “tạo dựng Biển Đông thành một vùng biển hòa bình và hợp tác”. Hai là, tình hình sẽ cơ bản như hiện nay, quá trình hợp tác và đấu tranh tiếp tục và đan xen lẫn nhau. Ba là, tình hình xấu hơn hiện nay, tức mặt xung đột, tranh chấp nhiều hơn hợp tác nhưng chưa có xung đột quy mô lớn. Bốn là xảy ra xung đột lớn.

Về việc xây dựng COC, các học giả cho rằng, COC chưa phải là phương tiện để giải quyết các tranh chấp mà sẽ là một công cụ để xây dựng lòng tin nhằm tạo môi trường hòa bình, ổn định, tin cậy lẫn nhau và khuyến khích hợp tác sử dụng và quản lý Biển Đông một cách hòa bình. Do vậy, COC không nên dừng lại ở cam kết của các bên thực hiện các nguyên tắc khung mà cần phải xác định rõ những hành vi không được phép tiến hành. Ngoài ra COC cũng cần quy định những điều kiện và cơ chế thích hợp cho phép các bên tăng cường đối thoại, giảm thiểu căng thẳng. Trước mắt, các bên cần thúc đẩy thực thi đầy đủ DOC ký giữa Trung Quốc và ASEAN năm 2002.

TTXVN

Dành cho bạn

Việt Nam - Pháp mở rộng không gian hợp tác chiến lược

Việt Nam - Pháp mở rộng không gian hợp tác chiến lược

Được bồi đắp qua nhiều thế hệ từ những gắn kết về lịch sử, văn hóa, giáo dục, khoa học đến giao lưu nhân dân sâu rộng, quan hệ Việt - Pháp vượt qua những thăng trầm của lịch sử, xây dựng thành công mối quan hệ hữu nghị, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng hướng tới tương lai.
Phó Thủ tướng Thường trực làm việc về triển khai các dự án điện tại Cần Thơ

Phó Thủ tướng Thường trực làm việc về triển khai các dự án điện tại Cần Thơ

Chiều tối 12/9, tại thành phố Cần Thơ, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc làm việc với lãnh đạo thành phố Cần Thơ, các bộ, ngành, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng quốc gia Việt Nam (PVN) về tình hình triển khai các dự án điện trên địa bàn thành phố.

Đưa tình hữu nghị Việt Nam - Thái Lan ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất, bền vững

Đưa tình hữu nghị Việt Nam - Thái Lan ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất, bền vững

Nhân dịp Nhà vua Maha Vajiralongkorn và Hoàng hậu Vương quốc Thái Lan thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam từ ngày 14 - 16/9/2026, phóng viên Thông tấn xã Việt Nam đã có cuộc phỏng vấn Thượng tướng, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Thành, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam - Thái Lan về ý nghĩa chuyến thăm cũng như vai trò của đối ngoại nhân dân trong việc củng cố lòng tin chiến lược giữa hai nước.