Bức tranh kinh tế 9 tháng năm 2026 ghi nhận mức tăng trưởng GRDP 9,43%, vượt bình quân cả nước, song áp lực chạm ngưỡng mục tiêu 10% theo Nghị quyết số 169/NQ-CP vẫn là bài toán nan giải. Việc giải mã nghịch lý tăng trưởng phụ thuộc vào hai cực, tháo gỡ điểm nghẽn hạ tầng và vốn đầu tư công đang là đòi hỏi sống còn để khơi dậy tiềm năng toàn vùng.
Tăng trưởng và nghịch lý "hai cực"
Với quy mô diện tích trên 92 nghìn km², dân số xấp xỉ 13 triệu người, vùng Trung du và miền núi phía Bắc dù mật độ dân số thấp nhất cả nước (138 người/km²) nhưng lại nắm giữ vị thế địa chính trị - an ninh quốc phòng đặc biệt xung yếu.
Theo báo cáo của Chính phủ, 9 tháng năm 2026 cho thấy sức bật rõ nét của vùng khi tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) đạt 9,43%, cao hơn đáng kể so với bình quân chung cả nước (9,01%). Điểm sáng đến từ khu vực ngoại thương với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu chạm mốc 173,67 tỷ USD, tăng tới 79% so với cùng kỳ năm trước, bỏ xa mức tăng 30,4% của cả nước và vươn lên đứng thứ 3 toàn quốc. Cùng với đó, dòng vốn FDI đăng ký đạt 9,68 tỷ USD (chiếm 19,2% cả nước), trong đó Thái Nguyên xuất sắc xếp thứ 2 cả nước khi thu hút 8,0 tỷ USD, còn Điện Biên tạo nên bước đột phá lịch sử với 549,4 triệu USD vốn đăng ký.
Tuy nhiên, đằng sau những chỉ số ấn tượng trên thì mức tăng trưởng thực tế cả năm ước đạt khoảng 9,4%, thấp hơn 1,1 điểm phần trăm so với mục tiêu bình quân các tỉnh đặt ra; có tới 8/9 địa phương không hoàn thành chỉ tiêu tăng trưởng tại Nghị quyết số 169/NQ-CP. Đáng quan tâm là động lực ngoại thương và FDI tập trung gần như tuyệt đối (khoảng 97% kim ngạch XNK và 93% vốn FDI) vào hai tỉnh Phú Thọ và Thái Nguyên. Phần lớn giá trị xuất khẩu này gắn liền với các tập đoàn FDI gia công, lắp ráp điện tử dựa trên linh kiện nhập khẩu (khiến vùng nhập siêu 6 tỷ USD, riêng Phú Thọ nhập siêu 14,8 tỷ USD). Mức độ liên kết với khối doanh nghiệp nội địa còn mỏng, giá trị gia tăng thực tế giữ lại trên địa bàn chưa tương xứng với quy mô dòng tiền dịch chuyển.
Khoảng 97% kim ngạch xuất nhập khẩu và 93% vốn FDI dồn vào hai tỉnh là Phú Thọ và Thái Nguyên, chủ yếu phụ thuộc vào chuỗi gia công linh kiện nhập khẩu. Mức độ gắn kết với khối doanh nghiệp trong nước còn mỏng mảnh.
Nhận diện những rào cản
Các chuyên gia kinh tế đặt câu hỏi, tại sao một vùng đất giàu tài nguyên và sở hữu các tuyến hành lang kinh tế xuyên Á lại chật vật trong nỗ lực bứt phá tăng trưởng bền vững?
Phân tích chuyên sâu từ các cơ quan hoạch định chính sách đã chỉ rõ những rào cản mang tính cốt lõi, đó là: Tính dễ tổn thương của cơ cấu kinh tế trước thiên tai và thị trường.
Mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên được giao cho 8/9 địa phương là áp lực quá sức khi các tỉnh chưa có năng lực sản xuất mới đi vào vận hành. Nông, lâm nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn (Tuyên Quang 22,8%, Lạng Sơn 22,3%, Sơn La 19,6%, Cao Bằng 16,8% GRDP) nên chịu tổn thất nặng nề khi thời tiết diễn biến cực đoan.
Đặc biệt, công nghiệp của một số tỉnh phụ thuộc quá sâu vào thủy văn: Tại Sơn La, sản xuất và phân phối điện chiếm tới 27% GRDP; trong quý II, lưu lượng nước về hồ sụt giảm đã kéo chỉ số tăng trưởng GRDP của tỉnh rơi tự do xuống vỏn vẹn 0,59% (Lai Châu cũng chỉ đạt 2,54%). Hàng loạt dự án năng lực sản xuất mới như thủy điện Bảo Lạc A, Pác Khuổi (Cao Bằng) hay nhiệt điện Na Dương II (Lạng Sơn) chưa kịp hòa lưới.
Điểm nghẽn tiếp theo, đó là hạ tầng và sự hụt hơi của vốn đầu tư. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 9 tháng của vùng mới chỉ đạt khoảng 54% mục tiêu năm (trong khi cả nước là 60,9%), thấp nhất là Lào Cai (39%) và Lạng Sơn (40%). Đặc biệt, tỷ lệ giải ngân vốn ngân sách trung ương vỏn vẹn 39,4% đã gián tiếp kìm hãm ngành xây dựng tại 7/9 địa phương. Mạng lưới giao thông kết nối liên vùng, kết nối với vùng Thủ đô và cảng biển còn nhiều nút thắt cổ chai; tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn sang Trung Quốc chưa hoàn thiện, thiếu hẳn các tuyến kết nối ngang nội vùng. Nhiều công trình huyết mạch rơi vào cảnh thi công đình trệ như cao tốc Hòa Bình - Mộc Châu, hầm đường bộ qua đèo Hoàng Liên, cao tốc Chợ Mới - Bắc Kạn hay Quốc lộ 2 đoạn Vĩnh Yên - Việt Trì.
Tiếp đó là hạn chế về năng lực thể chế và mật độ doanh nghiệp. Giai đoạn đầu vận hành chính quyền địa phương hai cấp bộc lộ sự lúng túng trong phân cấp, phân quyền; năng lực cán bộ cấp cơ sở vùng cao, biên giới còn bất cập.
Toàn vùng hiện chỉ có 56.989 doanh nghiệp đang hoạt động, chiếm tỷ lệ khiêm tốn 5,3% cả nước, chênh lệch quá xa so với tỷ trọng dân số (12,7%). Cải cách hành chính không đồng đều khiến môi trường đầu tư kém hấp dẫn; nhiều địa phương như Cao Bằng, Lào Cai chưa thu hút được bất kỳ dự án tư nhân nào quy mô trên 3.000 tỷ đồng.
Rào cản cuối cùng là chất lượng nguồn nhân lực và gánh nặng an sinh. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ mới đạt 23,56%; có tới 39% lực lượng lao động gắn với nông nghiệp và 72% làm việc trong khu vực phi chính thức. Thực trạng này tạo khoảng cách lớn, chưa thể đáp ứng đòi hỏi khắt khe của làn sóng công nghiệp công nghệ cao và bán dẫn tại Thái Nguyên, Phú Thọ. Đồng thời, đây vẫn là vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất nước, địa hình chia cắt khiến chi phí duy trì dịch vụ công, y tế và giáo dục tăng cao.
Hành động quyết liệt cho mục tiêu hai con số
Để khơi thông nguồn lực và đạt mục tiêu tăng trưởng cao trong quý IV năm 2026 cũng như giai đoạn 2026 - 2030, Chính phủ tại Nghị quyết số 312/NQ-CP ngày 5/10/2026 đã đặt ra yêu cầu phải kiên định mục tiêu tăng trưởng gắn với ổn định vĩ mô. Đồng thời, vùng cần quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 27-NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới tư duy phát triển vùng với các nhóm giải pháp trọng tâm.
Trước hết, kích hoạt đòn bẩy đầu tư công theo tinh thần "6 rõ". Cần siết chặt trách nhiệm người đứng đầu, gắn tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công với đánh giá KPI. Vốn ngân sách trung ương phải phát huy vai trò "vốn mồi", kiên quyết không đầu tư vào những lĩnh vực khu vực tư nhân có thể đảm đương, qua đó giải phóng dòng vốn xã hội hơn 334 nghìn tỷ đồng đang nằm trên giấy từ 271 dự án đầu tư tư nhân.
Kế đến, đột phá vào mạng lưới hạ tầng liên kết vùng và kinh tế cửa khẩu. Cần tập trung tối đa nguồn lực đẩy nhanh tiến độ dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng theo Nghị quyết số 40/2026/QH16 của Quốc hội, khẩn trương nghiên cứu đường sắt tốc độ cao Lạng Sơn - Hà Nội, xây dựng cảng hàng không Sa Pa, khơi thông tuyến thủy Việt Trì - Yên Bái - Lào Cai cùng các tuyến cao tốc huyết mạch Bảo Hà - Lai Châu, Sơn La - Điện Biên, Cổ Tiết - Chợ Bến. Song song đó, đầu tư hiện đại hóa 5 khu kinh tế cửa khẩu trọng điểm, đẩy mạnh chuyển đổi sang mô hình "cửa khẩu số" tại Lạng Sơn và Lào Cai nhằm rút ngắn thời gian thông quan, khai thác tối đa hiệp định thương mại tự do và thị trường Tây Nam Trung Quốc.
Cuối cùng, lấy con người và liên kết chuỗi làm cốt lõi bền vững. Cần khẩn trương xây dựng mạng lưới công nghiệp hỗ trợ kết nối doanh nghiệp nội địa với các "đại bàng" FDI như Samsung tại Thái Nguyên và Phú Thọ; hình thành vùng chuyên canh nông nghiệp hữu cơ chế biến sâu gắn với du lịch sinh thái đặc sắc tại Sa Pa, Mộc Châu, Điện Biên. Cùng với việc hoàn thành Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát, việc quyết liệt xây dựng 248 trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp tại các xã biên giới theo Kết luận số 81-TB/TW của Bộ Chính trị chính là khoản đầu tư căn cơ nhất cho tương lai.
Biến phên dậu hiểm trở thành pháo đài kinh tế năng động đó không chỉ là sứ mệnh kinh tế thuần túy, mà còn là mệnh lệnh chính trị và an ninh chiến lược để Trung du và miền núi phía Bắc vươn mình vững chãi cùng kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.