Đưa công nghệ vào quản lý bến xe

Tại các địa phương, việc quản lý các bến xe bằng công nghệ lạc hậu, phụ thuộc nhiều vào con người, nhất là các khâu tra cứu thông tin, lịch trình tuyến chạy chủ yếu bằng các lệnh vận chuyển... đã gây ra tình trạng lộn xộn, thiếu tổ chức. Do đó, áp dụng công nghệ để thay đổi cung cách quản lý là yêu cầu cấp bách.
Khó quản lý luồng tuyến vận tảiTheo Phó Vụ trưởng Vụ Vận tải, Tổng cục Đường bộ Việt Nam (Bộ Giao thông Vận tải - GTVT) Đỗ Công Thủy, việc tra cứu thông tin và lịch trình, quản lý thời gian xuất phát cũng như thời gian đến giữa các bến của các tuyến xe tại hầu hết các bến xe trong cả nước hiện nay chủ yếu bằng các lệnh vận chuyển do con người thực hiện. Với cách này, tuy kiểm soát được hành trình xe, nhưng các thông tin chi tiết như: Xe xuất phát giờ nào, đúng lịch trình hay không, xe do lái xe nào lái... đều buộc phải mở lệnh vận chuyển mới vận hành được. Điểm bất cập của cách quản lý này là khi số lượng xe tăng lên, nhất là vào dịp lễ, Tết thì sẽ gây ra tình trạng ùn tắc ngay trong khu vực các bến xe.
Đưa công nghệ vào quản lý bến xe ảnh 1

Việc xuất bến các tuyến xe khách chạy cố định hiện rất lộn xộn.

Cả nước có 457 bến xe, trong đó, có 26 bến xe khách xếp loại một, 42 bến xe xếp loại hai, 58 bến xe loại ba, còn lại thuộc loại bốn, năm, sáu. Qua rà soát của Tổng cục Đường bộ Việt Nam, tại nhiều bến xe hiện nay, các loại hình dịch vụ phục vụ hành khách chưa đáp ứng yêu cầu, nhiều tuyến cố định chạy chồng chéo, việc kiểm tra niêm yết giá vé, kiểm soát quy trình xe ra vào bến, kiểm tra giấy tờ phương tiện, người lái, kiểm tra các tiêu chí chất lượng dịch vụ thiếu chặt chẽ... Thực tế này làm cho hoạt động ở các bến xe không chuyên nghiệp, chưa văn minh, lịch sự, còn gây tâm lý hoang mang cho hành khách và làm cho hoạt động giao thông chung quanh khu vực một số bến xe bị ảnh hưởng nghiêm trọng.Do công tác quản lý lạc hậu, theo phản ánh của các doanh nghiệp vận tải xe khách, Sở GTVT và các cơ quan hữu quan địa phương không có thông tin đầy đủ về hoạt động của bến xe, mà phải đợi các bến báo cáo định kỳ, mất nhiều thời gian. Thêm vào đó, việc thống kê báo cáo bằng phương pháp thủ công, không tránh được sai sót, dẫn tới việc cơ quan quản lý không có các thống kê chính xác về hoạt động của bến xe, nên khó xây dựng và thực hiện được các quy hoạch luồng tuyến vận tải tại địa phương.
Công nghệ giúp kiểm tra, giám sát

Khắc phục những bất cập trên, Tổng cục Đường bộ Việt Nam đang triển khai thí điểm việc áp dụng công nghệ phần mềm điện tử vào quản lý hoạt động bến xe tại một số bến xe như: Trung tâm Đà Nẵng; Thượng Lý, Niệm Nghĩa, Lạc Long (Hải Phòng); Giáp Bát, Gia Lâm, Yên Nghĩa, Nước Ngầm (Hà Nội); Trung tâm TP Cần Thơ; Đắk Lắk, để rút kinh nghiệm trước khi áp dụng đại trà trên cả nước.
Ông Đỗ Công Thủy cho hay, khi đưa công nghệ phần mềm điện tử vào quản lý, thông tin hoạt động tại bến xe khách sẽ được cập nhật liên tục trong quá trình hoạt động tại bến xe và giữa các bến xe với cơ quan quản lý Nhà nước. Phần mềm sẽ tự động tổng hợp, phân tích, xử lý dữ liệu, thống kê báo cáo dữ liệu về hoạt động của từng bến cũng như toàn bộ các bến xe khách trong toàn quốc. Các Sở GTVT cập nhật vào hệ thống của Tổng cục Đường bộ đầy đủ dữ liệu về cơ sở hạ tầng bến xe trên địa bàn và giám sát quá trình hoạt động của bến.“Các đơn vị kinh doanh bến xe sẽ phải cập nhật về máy chủ của Tổng cục Đường bộ Việt Nam lịch xe xuất bến của toàn bộ các tuyến; danh sách doanh nghiệp hoạt động trên từng tuyến tại bến; biển số xe của từng loại phương tiện; giá vé và mức chất lượng dịch vụ đã đăng ký. Cùng đó là phải cập nhật thông tin của toàn bộ các chuyến xe ra vào bến như: Biển số xe, lái phụ xe, tuyến đường chạy, số lượng hành khách xuất bến và phải truyền thông tin về các trường hợp vi phạm cũng như hình thức xử lý tại bến”, ông Thủy nói.Ông Nguyễn Văn Thanh, Chủ tịch Hiệp hội Vận tải ô tô Việt Nam đánh giá: Việc quản lý phương tiện vận tải bằng phần mềm sẽ giúp bến xe nắm được tần suất chạy xe, số hành khách, số lượng doanh nghiệp vận tải tham gia tuyến tự động. Bên cạnh đó, cũng giúp cơ quan quản lý chủ động, kịp thời đánh giá được lượng hành khách, luồng tuyến vận tải trong toàn quốc. “Cần sớm áp dụng rộng rãi công nghệ hiện đại vào quản lý kinh doanh vận tải, buộc các bến xe phải thực hiện. Không thể quản lý kiểu thủ công mãi được…”, ông Thanh khẳng định. Ở góc độ quản lý, bà Phan Thị Thu Hiền, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Đường bộ Việt Nam cho biết: Mục tiêu của việc triển khai áp dụng công nghệ điện tử vào quản lý hoạt động tại các bến xe, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý điều hành của bến xe khách. Qua đó giúp công khai, minh bạch trong tổ chức hoạt động của bến xe khách, phục vụ tốt cho công tác kiểm tra hoạt động của bến xe; đồng thời tạo thuận lợi cho hành khách đi xe tra cứu, tìm hiểu các thông tin cần thiết mỗi khi có nhu cầu di chuyển bằng xe khách.
Bài và ảnh: Đăng Sơn

Dành cho bạn

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài cuối: Những tuyến đường đến các cực tăng trưởng mới

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài cuối: Những tuyến đường đến các cực tăng trưởng mới

Cao tốc, sân bay và cảng biển tạo lợi thế tiếp cận, nhưng dòng vốn chỉ ở lại nơi có đất sạch, điện, nước, nhân lực, môi trường và thủ tục đủ tin cậy. Từ Vân Phong, Nhơn Hội, Buôn Ma Thuột đến Liên Chiểu và các đô thị dọc cao tốc Lâm Đồng, miền Trung - Tây Nguyên đang hình thành nhiều điểm hội tụ mới. Thách thức là biến các dự án riêng lẻ thành hệ sinh thái và phân chia lợi ích liên vùng.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa

Hạ tầng có thể rút ngắn một chuyến xe, nhưng chưa chắc nâng giá trị một tấn nông sản. Giá trị chỉ tăng khi vùng nguyên liệu được số hóa, sản phẩm được bảo quản, chế biến, kiểm định và bán bằng thương hiệu của mình. Từ cà phê, sầu riêng ở Đắk Lắk, rau hoa và trái cây Lâm Đồng đến dữ liệu di sản Huế, chuỗi giá trị mới đang đòi hỏi hạ tầng rộng hơn đường sá: hạ tầng số, tiêu chuẩn và năng lực sáng tạo.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 2: Để cảng biển không thành 'đảo hạ tầng'

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 2: Để cảng biển không thành 'đảo hạ tầng'

Miền Trung có chuỗi cảng nước sâu trải dọc bờ biển, còn phía Tây là vùng sản xuất rộng lớn nối sang Lào và Campuchia nhưng một cầu cảng lớn không mặc nhiên có nguồn hàng, cũng như một tuyến cao tốc chưa chắc tạo nên hành lang kinh tế. Cuộc cạnh tranh mới nằm ở năng lực tổ chức hậu phương cảng, vận tải đa phương thức và hệ sinh thái dịch vụ giữ hàng hóa ở lại lâu hơn.