Đơn giản và cá thể hóa quy trình điều trị HIV

Đơn giản hóa quy trình điều trị, cá thể hóa các biện pháp can thiệp và tổ chức dịch vụ lấy người bệnh làm trung tâm đang trở thành xu hướng trong phòng, chống HIV/AIDS. Đây được xem là giải pháp quan trọng nhằm duy trì hiệu quả điều trị, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và hướng tới mục tiêu chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030.

Cá thể hóa điều trị, giảm gánh nặng cho người bệnh

Theo số liệu của Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế), sang năm 2026, Việt Nam đã đạt 94,9% người nhiễm HIV biết tình trạng nhiễm của bản thân; 80,5% người biết tình trạng nhiễm được điều trị bằng thuốc kháng virus (ARV) và 95,6% người điều trị ARV có tải lượng virus dưới ngưỡng ức chế. Kết quả này cho thấy, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong thực hiện mục tiêu 95-95-95.

Tuy nhiên, tình hình HIV/AIDS vẫn diễn biến phức tạp. Lây truyền qua đường tình dục hiện là đường lây chủ yếu, trong đó, số ca nhiễm gia tăng ở nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới, người chuyển giới nữ và có xu hướng trẻ hóa. Thực tế này đặt ra yêu cầu đổi mới các biện pháp can thiệp, bảo đảm dịch vụ phù hợp đặc điểm và nhu cầu của từng nhóm dân cư.

Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Thị Kim Chi, Giám đốc Văn phòng CDC Hoa Kỳ tại Thành phố Hồ Chí Minh nhận định, xu hướng điều trị HIV trên thế giới đang chuyển từ các phác đồ phức tạp sang những phương pháp đơn giản, linh hoạt và cá thể hóa hơn. Nếu trước đây người bệnh phải sử dụng nhiều viên thuốc mỗi ngày, các tiến bộ y học hiện nay đã mở rộng lựa chọn điều trị, giúp giảm số lượng thuốc và gánh nặng tuân thủ.

Một trong những hướng tiếp cận là sử dụng liệu pháp hai thuốc (DTG + 3TC), với một viên mỗi ngày, thay cho phác đồ ba thuốc ở những người bệnh đáp ứng đủ điều kiện chuyên môn. Phương pháp này giúp duy trì hiệu quả ức chế virus, đồng thời giảm số lượng hoạt chất sử dụng, góp phần hạn chế nguy cơ tác dụng không mong muốn và gánh nặng điều trị lâu dài.

Bên cạnh thuốc uống hằng ngày, các nghiên cứu đang mở rộng hướng phát triển thuốc tác dụng kéo dài. Một số liệu pháp tiêm như phối hợp Cabotegravir và Rilpivirine (CAB/RPV) cho phép người bệnh sử dụng thuốc định kỳ 8 tuần một lần. Các nghiên cứu khác đang đánh giá những phác đồ thuốc uống với khoảng cách giữa các lần dùng dài hơn. Những tiến bộ này mở ra thêm lựa chọn điều trị, giảm áp lực phải uống thuốc mỗi ngày và tạo thuận lợi cho người bệnh duy trì điều trị.

Việc theo dõi tải lượng virus cũng được nghiên cứu điều chỉnh theo hướng phù hợp tình trạng từng người bệnh. Theo đó, xét nghiệm có thể được thực hiện sớm hơn sau khi bắt đầu điều trị để đánh giá đáp ứng, sau đó điều chỉnh tần suất theo dõi đối với những trường hợp duy trì ức chế virus ổn định. Cách tiếp cận này góp phần giảm số lần người bệnh phải đến cơ sở y tế, đồng thời sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực xét nghiệm và nhân lực y tế.

Đa dạng hóa dự phòng, mở rộng tiếp cận dịch vụ

Cùng với đổi mới điều trị, các biện pháp dự phòng HIV cũng được phát triển theo hướng đa dạng, phù hợp đặc điểm và mức độ nguy cơ của từng nhóm đối tượng. Đại diện Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và CDC Hoa Kỳ đã cập nhật những khuyến cáo liên quan đến dự phòng trước phơi nhiễm (PrEP), dự phòng sau phơi nhiễm và các biện pháp phòng ngừa bệnh lây truyền qua đường tình dục.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Thúy Vân, đại diện WHO tại Việt Nam cho biết, các lựa chọn dự phòng tác dụng kéo dài đang tạo thêm cơ hội tiếp cận cho những người gặp khó khăn trong việc duy trì sử dụng thuốc uống hằng ngày. Trong đó, Lenacapavir dạng tiêm, với lịch sử dụng hai lần mỗi năm và Cabotegravir tác dụng kéo dài là những lựa chọn đáng chú ý trong dự phòng trước phơi nhiễm HIV.

Đối với các bệnh nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục, Doxycycline dự phòng sau phơi nhiễm (Doxy-PEP) cũng được đề cập như một biện pháp can thiệp dành cho một số nhóm có nguy cơ cao. Theo phương pháp này, người sử dụng dùng liều duy nhất 200 mg trong vòng 72 giờ sau quan hệ tình dục có nguy cơ. Biện pháp được nghiên cứu về khả năng giảm nguy cơ mắc một số bệnh như, giang mai và Chlamydia nhưng cần được tư vấn, chỉ định và theo dõi theo hướng dẫn chuyên môn.

Để các tiến bộ khoa học thực sự phát huy hiệu quả, bà Patricia Ongpin, Giám đốc Quốc gia Chương trình phối hợp của Liên hợp quốc về HIV và AIDS (UNAIDS) tại Campuchia, Lào, Malaysia và Việt Nam nhấn mạnh yêu cầu đổi mới cách tổ chức cung cấp dịch vụ. Theo đó, các địa phương cần tăng cường lồng ghép dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS vào mạng lưới chăm sóc sức khỏe ban đầu tại trạm y tế xã, phường; đồng thời tận dụng năng lực xét nghiệm hiện có để tích hợp chẩn đoán nhiều bệnh như, HIV, lao, viêm gan virus và các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

Bên cạnh hệ thống y tế, sự tham gia của các tổ chức dựa vào cộng đồng có vai trò quan trọng trong kết nối người có nguy cơ với dịch vụ dự phòng, xét nghiệm và điều trị. Các hoạt động tư vấn đồng đẳng, hỗ trợ tiếp cận và xây dựng gói dịch vụ phù hợp với nhu cầu của thanh niên, các nhóm dễ bị tổn thương sẽ góp phần thu hẹp khoảng cách trong tiếp cận y tế.

Đơn giản hóa dịch vụ không chỉ là thay đổi phác đồ thuốc hay giảm số lần xét nghiệm mà còn là đổi mới toàn diện cách tiếp cận người bệnh, từ dự phòng, phát hiện, điều trị đến theo dõi lâu dài. Đây là hướng đi cần thiết để nâng cao hiệu quả phòng, chống HIV/AIDS, bảo đảm tính liên tục của dịch vụ và tiến tới mục tiêu chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030.

Ánh Tuyết/TTXVN

Dành cho bạn

Khám sức khỏe toàn dân - Bài 1: Thay đổi thói quen 'có bệnh mới đi khám'

Khám sức khỏe toàn dân - Bài 1: Thay đổi thói quen 'có bệnh mới đi khám'

Chương trình khám sức khỏe toàn dân, khám sàng lọc miễn phí là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước được triển khai trên cả nước từ năm 2026, hướng đến mục tiêu mỗi người dân được kiểm tra sức khỏe ít nhất một lần mỗi năm. Tại Tây Ninh, chương trình đã được triển khai giúp người dân phát hiện sớm bệnh tật, nâng cao ý thức phòng bệnh; đồng thời, tạo nền tảng để quản lý sức khỏe liên tục, từng bước chuyển từ chữa bệnh sang chủ động chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.

Cần Thơ: Khám sức khỏe định kỳ cho người dân vùng biển, tích hợp dữ liệu lên VNeID

Cần Thơ: Khám sức khỏe định kỳ cho người dân vùng biển, tích hợp dữ liệu lên VNeID

Ngày 24/10, Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người dân tại Trạm Y tế xã Trần Đề, thành phố Cần Thơ, tiếp tục triển khai chương trình khám sức khỏe toàn dân năm 2026, hướng đến mục tiêu nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, phát hiện sớm bệnh tật và tăng cường quản lý sức khỏe cộng đồng.

Chuyển đổi số nâng hiệu quả quản trị và chăm sóc người bệnh

Chuyển đổi số nâng hiệu quả quản trị và chăm sóc người bệnh

Các bệnh viện tại TP Hồ Chí Minh đang ứng dụng công nghệ số để giảm thời gian làm hồ sơ, theo dõi hoạt động khám, chữa bệnh và hỗ trợ kiểm soát chất lượng chuyên môn. Điều này này đòi hỏi dữ liệu được chuẩn hóa, liên thông và bảo mật, nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh.