Cạnh tranh để tạo động lực tăng trưởng mới
Kinh tế Việt Nam phải khôi phục lại đà tăng trưởng GDP ở mức 7 - 7,5% mới có thể nhanh rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước. Nhưng các động lực cho tăng trưởng như nới chính sách tài khóa, mở rộng đầu tư, nới lỏng tín dụng… đã hết biên độ cho phép.
Do đó, phải tìm ra động lực mới để thúc đẩy tăng trưởng, chìa khóa cho vấn đề này là cải cách cạnh tranh!”, TS Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) nhấn mạnh hội thảo rà soát chính sách cạnh tranh - kinh nghiệm của Australia, sáng 3/8, tại Hà Nội.
Động lực tăng trưởng truyền thống đã đụng trần
| May hàng xuất khẩu tại cơ sở may Thanh Thư (Sóc Trăng). |
Theo Viện trưởng CIEM Nguyễn Đình Cung, trong 3 năm qua kinh tế Việt Nam được đánh giá là thành công với tăng trưởng tương đối cao. Nhưng nhìn biểu đồ tăng trưởng trong 10 năm lại đây thì tốc độ tăng trưởng lại theo xu hướng giảm. Nếu như giai đoạn 1990 - 2007 tăng trưởng GDP trung bình là 7,8%/năm, đến giai đoạn 2007 - 2012 còn 6,7% và từ 2012 đến nay chỉ còn 5,8%. Cùng với đó, nền tảng kinh tế vĩ mô trở nên kém vững chắc hơn, sự bất ổn luôn hiện hữu. Thực tế này cho thấy để đảo ngược xu hướng tăng trưởng giảm, Việt Nam phải tìm được động lực cải cách. “Chỉ có khôi phục lại được đà tăng trưởng với mức 7 - 7,5% GDP/năm từ nay đến 2030, mới có thể rút ngắn khoảng cách phát triển giữa Việt Nam và các nước…”, ông Nguyễn Đình Cung nói.
Chuyên gia kinh tế Lưu Bích Hồ cho rằng, môi trường kinh doanh đầy rẫy rào cản hạn chế cạnh tranh. Một thị trường như thế sẽ dẫn đến những tín hiệu sai lệch, dẫn đến chính sách quản lý, phát triển cũng sai, sử dụng các nguồn lực sẽ kém hiệu quả.
Do đó, các chuyên gia CIEM cho rằng, để tạo ra động lực đổi mới, chìa khóa là tạo ra “cạnh tranh” trong nền kinh tế thị trường. Vì cạnh tranh là cốt lõi của kinh tế thị trường, tạo động lực mới cho tăng trưởng của mọi nền kinh tế, thúc đẩy sự phân bố và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy sáng tạo, đổi mới, tận dụng hết tiềm năng từ cá nhân cho đến toàn bộ xã hội.
Thiết lập cơ quan giám sát cải cách cạnh tranh
Từ kinh nghiệm của Australia, bà Rosalie McLachlan, Phó Chủ nhiệm Ủy ban năng suất Australia kiêm Giám đốc văn phòng khiếu nại, cạnh tranh của Australia cho rằng, cạnh tranh đóng vai trò cốt lõi trong việc thúc đẩy kinh tế, tạo ra thu nhập tốt hơn cho người Việt Nam.
Để kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh và bền vững trong thời gian tới phải thúc đẩy cải cách cạnh tranh, TS Nguyễn Đình Cung cho rằng, đang có quá nhiều rào cản cạnh tranh trong môi trường kinh doanh, ví như những quy định trong Thông tư 20 của Bộ Công Thương về nhập khẩu ô tô đang tạo ra sự độc quyền, phục vụ nhóm lợi ích, hạn chế sự gia nhập thị trường của các doanh nghiệp. Hoặc quy định muốn kinh doanh gas phải có 10.000 vỏ bình; muốn xuất khẩu gạo phải có nhà máy xay xát cũng đang tạo ra những rào cản để doanh nghiệp tham gia thị trường. “Chúng ta định hướng phát triển kinh tế thị trường, nhưng lại vẫn tạo ra những rào cản. Đây là bi kịch của kinh tế Việt Nam. Trong tư duy quản lý nhà nước, luôn sợ cạnh tranh, nên luôn muốn thu hẹp lại để quản lý, nhưng việc thu hẹp lại hạn chế cạnh tranh, không có cạnh tranh thì không tạo ra năng suất, sáng tạo và sử dụng nguồn lực hiệu quả...”, TS Cung nói.
Bà Rosalie cũng cho biết, cải cách cạnh tranh của Australia không dễ dàng, cũng vấp phải sự chống đối, bảo thủ của các nhóm lợi ích, của khối doanh nghiệp nhà nước và những doanh nghiệp bị thiệt hại trong chính sách cải cách cạnh tranh. Để giải quyết vấn đề trên, các tổ chức độc lập có trách nhiệm triển khai, giám sát cải cách cạnh tranh đã chứng minh trước Quốc hội, Chính phủ, người dân Australia về những thiệt hại với quốc gia, cộng đồng do sự độc quyền gây ra, đồng thời cũng chỉ rõ bằng những số liệu phân tích cụ thể những lợi ích khi thực hiện cải cách cạnh tranh, chống độc quyền.
Chia sẻ kinh nghiệm với Việt Nam, bà Rosalie cho rằng, cần phải có một cơ quan quốc gia chịu trách nhiệm điều phối, giám sát cải cách cạnh tranh. Cơ quan này theo dõi và công khai những tiến triển trong và sau khi cải cách, có công cụ chứng minh rõ những chi phí quốc gia, xã hội, người dân phải trả khi hạn chế cạnh tranh. “Khi cả xã hội nhận thức rõ hơn về lợi ích của cải cách, sẽ giúp huy động sự ủng hộ của cộng đồng cho quá trình cải cách tốt hơn, vượt qua sự kháng cự của những nhóm lợi ích”, bà Rosalie nói.