Theo phân tích của ông Alan Eyre, chuyên gia của Viện Nghiên cứu Trung Đông (MEI), chính quyền Tổng thống Donald Trump đang nhầm lẫn giữa ưu thế chiến thuật và thành công chiến lược. Dòng dầu qua Hormuz phục hồi chưa bảo đảm Iran nhượng bộ, trong khi cuộc chiến đã kéo dài 7 tháng thay vì 4-5 tuần như dự tính.
Những người ủng hộ cuộc chiến lại coi dòng dầu phục hồi là dấu hiệu chiến lược Mỹ đang phát huy hiệu quả. Ông Trump gần đây bác bỏ kế hoạch 7 ngày do Bộ Ngoại giao Iran đề xuất nhằm chấm dứt chiến tranh và mở lại eo biển, đồng thời khẳng định Mỹ đang giành thắng lợi lớn.
Dòng dầu phục hồi, rủi ro vẫn cao
Thủy lôi và các cuộc tấn công tàu chở dầu của Iran khiến lượng dầu qua Hormuz giảm từ khoảng 20 triệu thùng/ngày trước chiến tranh xuống dưới 3 triệu thùng/ngày vào tháng 3. Cuối tháng 8, quân đội Mỹ tuyên bố đã rà phá thủy lôi trên các tuyến qua eo biển. Giữa tháng 9, Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ (CENTCOM) thông báo Hormuz đã mở cho tàu thuyền lưu thông.
Theo công ty phân tích hàng hải Kpler, lượng dầu đi qua eo biển trong tháng 9 đạt bình quân 10 triệu thùng/ngày. Khoảng 6 triệu thùng/ngày khác được xuất khỏi khu vực thông qua các cảng và đường ống tránh Hormuz. Những con số này cho thấy nguồn cung đang phục hồi, song một phần đáng kể lượng dầu xuất khẩu vẫn phải đi theo các tuyến thay thế.
Một yếu tố giúp khôi phục dòng dầu là phương thức vận chuyển do các công ty dầu mỏ Saudi Arabia, UAE, Qatar và Kuwait triển khai cùng Hải quân Mỹ. Các tàu chở dầu hoạt động bên trong eo biển tắt thiết bị phát tín hiệu nhận dạng, nhận hàng rồi di chuyển sát bờ biển Oman dưới sự bảo vệ của tiêm kích và trực thăng tấn công Mỹ. Khi đến vùng biển an toàn, dầu được chuyển sang các siêu tàu chở dầu để tiếp tục hành trình.
Tuy nhiên, theo ông Eyre, phương thức này khó duy trì lâu dài hoặc mở rộng quy mô. Việc chuyển dầu giữa các tàu vừa tốn kém vừa tiềm ẩn nguy hiểm, đồng thời phụ thuộc vào hoạt động quân sự liên tục của Mỹ.
Rủi ro đối với tàu thuyền cũng chưa giảm đến mức cho phép hoạt động bình thường trở lại. Ít nhất 8 tàu chở dầu bị tấn công trong tuần tính đến ngày 5/10. Trung tâm Thông tin Hàng hải Liên hợp (JMIC), một cơ quan đa quốc gia đặt tại Bahrain, vẫn đánh giá mức đe dọa đối với hành trình qua Hormuz là nghiêm trọng.
Theo Cơ quan thương mại hàng hải Anh (UKMTO), lưu lượng tàu thuyền qua eo biển vẫn thấp hơn 75% so với trước xung đột. Xuất khẩu các sản phẩm dầu đã qua lọc của khu vực mới bằng 58% mức trước chiến tranh, trong khi nguồn cung dầu thô và sản phẩm lọc dầu toàn cầu vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu.
Chuyên gia phân tích rủi ro thương mại Ana Subasic của Kpler nhận định rằng số tàu và lượng dầu qua khu vực tăng so với giai đoạn trước đó của cuộc chiến chưa có nghĩa dòng vận chuyển đã trở lại bình thường.
Sức ép kinh tế chưa bảo đảm Iran nhượng bộ
Theo ông Eyre, sự tự tin của Tổng thống Trump còn gắn với quan điểm rằng kết quả cuộc chiến sẽ phụ thuộc vào bên nào chịu được tổn thất kinh tế lâu hơn. Washington đang gia tăng sức ép lên Tehran thông qua phong tỏa các cảng Iran và chiến dịch của Bộ Tài chính Mỹ nhằm cắt đứt những nguồn lực kinh tế còn lại của nước này.
Nền kinh tế Iran vốn đã khó khăn trước chiến tranh, nay lún sâu vào khủng hoảng. Tỷ giá đồng rial đã vượt 2,5 triệu rial đổi một USD, so với khoảng 1,2 triệu rial trước chiến tranh. Theo số liệu của Chính phủ Iran, giá thực phẩm cuối tháng 8 tăng hơn 125% so với cùng kỳ năm trước. Tình trạng thiếu xăng trở nên nghiêm trọng, trong khi chính phủ từng bước thu hẹp trợ cấp.
Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo kinh tế Iran giảm 5,4% trong năm 2026. Đầu tháng 9, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Bessent cho rằng Iran đang rơi vào vòng xoáy suy sụp và rất muốn đạt được thỏa thuận.
Ông Eyre thừa nhận tổn thất kinh tế của Iran có thể đang tăng nhanh hơn của Mỹ. Tuy nhiên, theo ông, điều đó chưa đủ để dự đoán bên nào sẽ nhượng bộ trước. Giới lãnh đạo Iran coi cuộc chiến là vấn đề sống còn của chế độ và có thể chấp nhận mức tổn thất cao hơn nhiều so với một chính quyền Mỹ đang đối mặt với cuộc chiến không được lòng công chúng.
Giá xăng và dầu diesel tăng mạnh có thể gây bất lợi cho Đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử giữa kỳ tháng 11. Trong khi đó, ông Eyre cho rằng giới lãnh đạo Iran có hệ thống kiểm soát xã hội đã được củng cố qua nhiều năm và không điều chỉnh chính sách theo sức ép từ lá phiếu.
Một trở ngại khác nằm ở cách Tehran nhìn nhận mục đích của Washington. Theo ông Eyre, những lãnh đạo Iran hiện nay có lập trường cứng rắn hơn và chịu ảnh hưởng quân sự lớn hơn những người thiệt mạng trong các cuộc tấn công của Mỹ và Israel đầu cuộc chiến. Họ hành động dựa trên nhận định rằng Mỹ quyết tâm lật đổ Cộng hòa Hồi giáo, nên coi thỏa hiệp dưới sức ép là bước đi có thể đẩy nhanh sự sụp đổ của chính mình.
Trong bối cảnh đó, ông Eyre đánh giá Tehran có thể lựa chọn leo thang quân sự hơn là nhượng bộ trước sức ép kinh tế và tình thế chiến lược ngày càng bất lợi. Washington đã gây thiệt hại lớn cho quân đội và kinh tế Iran, đồng thời giúp đưa thêm dầu ra khỏi khu vực. Nhưng khả năng biến những kết quả này thành một thỏa thuận chấm dứt chiến tranh vẫn là bài toán chưa có lời giải.